VIETNAM SOCIAL WORK NETWORK

The backup of http://vnsocialwork.net

  • Home
  • TIN TỨC

VNSW xin giới thiệu bài viết "Bất bình đẳng giới và nguy cơ lây nhiễm HIV trong thanh niên" của ThS Hoàng Thu Cúc. Bài viết được đăng trên Tạp chí Khoa học, ĐHQG Hà Nội số 3 năm 2010.

Từ khi xuất hiện vào cuối 1980 và đầu 1990, HIV/AIDs đã phát triển thành nạn dịch xuất hiện khắp nơi trên thế giới. Trên thế giới, trong số thanh niên, số đông những người mới bị nhiễm là nam giới nhưng nữ giới lại là nhóm cơ nguy cơ dễ bị lây nhiễm nhất. Ở Việt Nam, kể từ khi trường hợp đầu tiên được chính thức thông báo vào năm 1990, tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDs tăng lên nhanh chóng, đặc biệt trong nhóm thanh niên trong độ tuổi từ 15-24. Trong nhóm tuổi này, phụ nữ có nguy cơ dễ bị lây nhiễm hơn so với việc làm dụng ma túy hay hoạt động mại dâm. HIV/AIDs ở các nước đang phát triển có thể được giải thích bởi các yếu tố kinh tế, sinh học hay văn hóa xã hội. Chúng ta không thể phủ nhận rằng nguyên nhân sâu sa của HIV/AIDs ở các nước đang phát triển có thể quy cho yếu tố kinh tế. Tuy nhiên, mục tiêu của bài viết này muốn bàn tới các yếu tố văn hóa-xã hội ảnh hưởng đến nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDs trong nhóm thanh niên Việt Nam. Bài viết sẽ chỉ ra rằng chính rào cản về văn hóa, xã hội làm cho nữ giới có nguy cơ dễ bị lây nhiễm hơn nam giới. Quá trình xã hội hóa, chương trình kế hoạch hóa gia đình và các giá trị, chuẩn mực xã hội đã góp phần ảnh hưởng tới hành vi tình dục không an toàn của thanh niên và do đó dẫn tới khả năng dễ bị lây nhiễm HIV/AIDs của họ.

Xin đọc toàn văn bài viết tại đây: Bất bình đẳng giới và nguy cơ lây nhiễm HIV trong thanh niên

Nguồn: Tạp chí Khoa học, ĐHQG Hà Nội...
VNSW xin giới thiệu Phần mở đầu của cuốn sách "Định kiến và phân biệt đối xử theo giới", tác giả PGS.TS Trần Thị Minh Đức, do NXB ĐHQG Hà Nội phát hành.

Ngày nay, hơn một nửa dân số thế giới là phụ nữ và phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội. Nhưng bất chấp thực tế này, trong nhiều nền văn hoá, phụ nữ không những không được đánh giá và đối xử đúng với năng lực và vị trí thực tế của mình, mà còn là đối tượng của những định kiến tiêu cực, nặng nề và chịu sự phân biệt trong đối xử.

Ngay từ thời cổ đại, ở Hy Lạp, cái nôi của nền dân chủ, nhà triết học Euripide đã viết: “Kẻ nào thôi không nói xấu về phụ nữ nữa thì đúng là một thằng điên”. Khổng Tử, người mà chúng ta biết có một ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn hoá của các quốc gia phương Đông cũng đã nói: “Phụ nữ là những người dễ làm đồi bại và cũng dễ bị đồi bại”. Còn Thiên Chúa giáo, một trong những tôn giáo lớn trên thế giới cũng quan niệm phụ nữ chỉ là một tạo vật không hoàn mỹ được Chúa tạo ra từ chiếc xương sườn của người đàn ông. ở Việt Nam, một trong những quan niệm về phụ nữ được thể hiện trong câu châm ngôn cổ xưa: “Đàn bà đái không qua ngọn cỏ”. Tư tưởng hàm chứa trong câu châm ngôn này nói lên rất rõ sự coi thường của xã hội đối với phụ nữ.

Chúng ta có thể nói: đó là những tư tưởng định kiến lỗi thời, không thích hợp với xã hội hiện đại. Nhưng vào năm 1900, Pierre de Coubertin, cha đẻ của Thế vận hội Olympic tuyên bố: “Một thế vận hội mà có sự tham gia của nữ giới thì phức tạp, chán ngắt, phi thẩm mỹ và không đúng với tinh thần của Thế vận hội...”.

Có thể thấy, những định kiến tiêu cực về người phụ nữ không hề mất đi mà được lưu truyền trong nhiều nền văn hoá, từ đời này sang đời khác, bất chấp thực tế xã hội đã có nhiều thay đổi. Điều này khiến chúng ta dễ dàng nhận thấy và chỉ ra rằng, thực tế hiện nay phụ nữ đang ở một vị trí thấp kém hơn so với nam giới. Phụ nữ bị hạn chế trong sở hữu tài sản và tiếp cận các nguồn lực kinh tế, trong giáo dục và công nghệ; phụ nữ ít có tiếng nói trong gia đình và xã hội; phụ nữ mang gánh nặng công việc trong vai trò kép v..v...

Trên bình diện quốc gia, những kinh nghiệm toàn cầu cho thấy bất bình đẳng giới làm cản trở quá trình phát triển. Thực tiễn từ khắp các nước trên thế giới đã chứng minh: Xã hội nào có sự bất bình đẳng giới sâu sắc và dai dẳng sẽ phải trả giá bằng thảm cảnh đói nghèo, suy dinh dưỡng, bệnh tật và bất công xã hội. Nghiêm trọng hơn, cái giá của bất bình đẳng giới đặc biệt nặng nề tại những nước thuộc thế giới thứ ba, và trong từng quốc gia, sự phân biệt giới có xu hướng diễn ra gay gắt nhất trong nhóm người nghèo (World Bank, 2001).

Liên Hợp Quốc đã đánh giá cao nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng thể chế thuận lợi nhằm mang lại quyền lợi và cơ hội phát triển cho phụ nữ. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, tình trạng bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại và nó được điều khiển bởi hạt nhân cơ bản nhất là định kiến giới. ở Việt Nam, trong tương quan với nam giới, phụ nữ thuộc nhóm những người có thu nhập thấp. Tình trạng bất bình đẳng giới trong việc tiếp cận và hưởng lợi từ các quyền, nguồn lực hoặc tiếng nói thường gây bất lợi cho phụ nữ nhiều hơn, mặc dù chúng cũng tác động xấu tới những đối tượng khác trong xã hội. Cái giá mà chúng ta phải trả cho tình trạng bất bình đẳng giới bao gồm  hàng loạt chi phí trực tiếp về phúc lợi xã hội, tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo và cải thiện chất lượng cuộc sống. Những hậu quả của bất bình đẳng giới không loại trừ một ai, thậm chí những thế hệ tương lai cũng tiếp tục chịu thiệt thòi.

Lịch sử phát triển xã hội cho thấy không thể có tiến bộ xã hội thật sự nếu vẫn còn một bộ phận nào đó của xã hội bị đối xử bất công hoặc bị loại trừ. Do vậy, nâng cao bình đẳng giới đã trở thành một phần của chiến lược quốc gia về phát triển bền vững. Tiến bộ về bình đẳng giới là một yêu cầu bắt buộc để Việt Nam đạt được 8 mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, trong đó có mục tiêu số 3 là tăng cường bình đẳng giới và nâng cao năng lực cho phụ nữ, mà Việt Nam cùng với 188 quốc gia khác đã nhất trí thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc vào năm 2000. Những mục tiêu này đảm bảo mọi việc chính phủ tiến hành đều nhằm đáp ứng nhu cầu của mọi thành viên trong xã hội và lợi ích chung sẽ được phân phối công bằng cho cả nam giới và phụ nữ. Tuy nhiên, chúng ta thấy nguyên nhân sâu xa của bất bình đẳng giới đã làm chậm lại quá trình đạt tới những mục tiêu bình đẳng giới mà chính phủ đã đề ra; cản trở nỗ lực xây dựng xã hội mà ở đó cả nam giới và phụ nữ đều được hưởng lợi từ những thành tựu của sự phát triển. Đó chính là những hậu quả của định kiến và phân biệt đối xử theo giới gây ra. Điều này cũng chỉ ra rằng: Việc nghiên cứu định kiến và phân biệt đối xử theo giới càng trở nên cần thiết và nó bắt nguồn từ tính chất phức tạp không dễ nhận biết của hiện tượng này.

Đứng trên quan điểm giới, chúng ta dễ dàng nhận thấy định kiến giới len lỏi vào trong mọi hoạt động của xã hội, tồn tại trong mọi tầng lớp dân cư. Người mang định kiến không chỉ là nam giới mà còn có cả phụ nữ. ở bất cứ đâu, trong bất cứ mối quan hệ nào giữa nam giới và phụ nữ, chúng ta cũng có thể bắt gặp định kiến. Tuy nhiên, khi hỏi một người rằng “Liệu bạn có định kiến về phụ nữ không?”. Có lẽ một số đông áp đảo đã có sẵn câu trả lời: “Không, hoàn toàn không!”. Mỗi cá nhân có thể dễ dàng chỉ ra định kiến và sự cố chấp mù quáng của người khác trong mối tương quan giữa phụ nữ và nam giới, nhưng lại không nhận thấy những xu hướng như vậy cũng tồn tại ngay trong chính bản thân mình. Và hiển nhiên, những hình thức của định kiến giới trở nên rất khó phát hiện vì chúng ta đã quá quen với nó. Chúng ta đã sống trong một môi trường mà ở đó những khuôn mẫu giới tính sẵn có trở nên “tự nhiên”, “bình thường” theo kiểu đàn ông phải như thế này, phụ nữ phải như thế kia. Chúng ta dễ dàng cảm thấy kỳ quặc khi “Thằng bé này mặc quần áo như một bé gái!”, hoặc khó chịu khi “Lão ấy cư xử như đàn bà”. Đó chính là những khuôn mẫu đã trở thành định kiến mà mỗi người ít nhiều tiếp thu được, tuỳ thuộc vào giới tính của mình.

Xoá bỏ định kiến, nghĩa là thay đổi nhận thức và thái độ của mỗi người là công việc không dễ dàng. Không phải bất cứ ai cũng nhận thấy mình đang mang định kiến về người khác, hay có xu hướng phân biệt đối xử với người khác. Vì vậy, những xu hướng này thường được “ẩn giấu” đằng sau “tính hợp lý” mà mỗi người thường dùng để lý giải cho định kiến của mình.

Khi nói về định kiến giới, chúng ta thường tập trung nói về sự “thua thiệt”, sự “bất công” của phụ nữ so với nam giới. Tuy nhiên nhìn ở góc độ của khoa học giới, chắc chắn rằng nam giới cũng phải chịu những định kiến và áp lực trong vai trò của họ. Ví dụ, vai trò “trụ cột kinh tế” trong gia đình là một vai trò được xã hội quy gán cho người đàn ông. Vì vậy, khi gia đình gặp khó khăn, người phụ nữ thường quy trách nhiệm cho nam giới. Với bản thân nam giới, họ không thể không mặc cảm trong vai trò người chồng, người cha của mình, dù họ đã hết sức cố gắng. Tuy nhiên, trên thực tế, định kiến giới thường được xã hội mô tả dưới dạng là định kiến đối với phụ nữ.

 

Chúng ta khó có thể phủ nhận một thực tế hiện nay là phụ nữ đang ở vị trí thứ yếu so với nam giới. Hơn nữa, như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, định kiến đối với phụ nữ dường như mang nhiều hàm nghĩa “tiêu cực” hơn so với nam giới. Phụ nữ thường được coi là những người “tình cảm yếu ớt”, “phụ thuộc”, “thụ động”, “thiếu chí tiến thủ...”, còn nam giới là những người “ sáng suốt”, “quyết đoán”, “quyền uy và tự chủ”...

Những nhận định đối với phụ nữ của một nhóm xã hội nào đó ban đầu có thể xuất phát từ những dấu hiệu dựa trên một số hiện thực nhất định. Nhưng khi chúng được khái quát hoá một cách tuyệt đối và coi đó là những chuẩn mực để đánh giá, phán xét và ứng xử với tất cả phụ nữ, trong khi thực tế đã thay đổi, thì những nhận xét này trở thành định kiến. Mặt khác, thực tế cuộc sống biến chuyển nhanh chóng và đa dạng, trong khi quan niệm của chúng ta có thể đúng với đa số trường hợp trước đây nhưng không còn phù hợp với thực tiễn của xã hội ngày nay. Ví dụ, trong xã hội phong kiến, phụ nữ đã rất thích hợp với vai trò nội trợ và chăm sóc các thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, xã hội hiện nay đã thay đổi, phụ nữ đang khẳng định khả năng của mình trong các vai trò xã hội và kinh tế. Nếu chúng ta vẫn còn quan niệm chung rằng: phụ nữ là thụ động, ỷ lại còn nam giới là người trụ cột trong gia đình, thì cách nhìn này càng phải xem lại, vì nó ít nhiều mang màu sắc của định kiến giới.

Xem xét các biểu hiện của định kiến từ góc độ giới, chúng ta thấy: ở mức độ nhẹ, định kiến và phân biệt đối xử theo giới với phụ nữ thể hiện ở ngôn từ cửa miệng, lời nói dân gian như “Đồ đàn bà”, “Các bà thì biết gì”; hoặc thể hiện ở sự né tránh, đơn giản qua việc lườm nguýt, lừ mắt, im lặng và phớt lờ theo kiểu “Không thèm dây với đàn bà”. ở mức độ cao hơn, định kiến thể hiện trong nhận thức xã hội, trong quan niệm xã hội về những gì phụ nữ “có thể” hay “không thể”, phụ nữ “nên làm” hay “không nên làm”, theo kiểu: “Phụ nữ không thể giữ các vị trí trưởng”, “Phụ nữ không thể làm lãnh đạo” ... Những quan niệm này thể hiện hệ tư tưởng của các nhóm xã hội nhất định, hoặc của toàn xã hội. Đơn cử một ví dụ, văn hóa hay tín ngưỡng “Thờ cúng tổ tiên”, “Nối dõi tông đường” thường được coi là “trọng trách” của người đàn ông. Điều này thực chất thể hiện tư tưởng trọng nam khinh nữ. Tư tưởng định kiến còn được xuyên suốt qua tục ngữ, ca dao, như “Đàn ông rộng miệng thì sang, đàn bà rộng miệng toang hoang cửa nhà”, hay “Bồ cu mà đỗ nóc nhà, mấy đời đàn bà đi hỏi đàn ông” v.v..

ở một mức độ cao hơn nữa, định kiến thể hiện trong các hành vi ứng xử mang tính phân biệt, nhằm bảo vệ “quyền” của người đàn ông, của người chồng trong gia đình, như những hình thức bạo hành trong gia đình, những hành vi phân định “của phụ nữ”, “của nam giới” trong công việc. Nhiều trường hợp, sự phân biệt đối xử còn được thể hiện trong việc hạn chế cơ hội học tập, vui chơi và chất lượng dinh dưỡng của trẻ em gái so với trẻ em trai. Những hình thức bạo hành đối với phụ nữ không chỉ thể hiện qua những bằng chứng cụ thể, dễ nhận biết, mà nhiều biểu hiện của định kiến và phân biệt đối xử theo giới với phụ nữ còn được “ngụy trang”, “trá hình” một cách tinh vi với những sắc thái mới theo kiểu “bảo vệ”, “nâng đỡ” phụ nữ như việc không cho vợ tham gia hội họp vì sợ đi đêm không an toàn; nhiều nam giới chỉ chấp nhận cho vợ tham gia các hoạt động xã hội nếu như vợ tự thu xếp ổn thoả việc gia đình và chăm sóc con cái; hoặc không trao những việc trọng trách cho phụ nữ vì sợ họ “vất vả”. Thậm chí, pháp luật còn “bảo vệ” phụ nữ bằng cách cho họ nghỉ hưu trước nam giới 5 năm. Trong khi đối với nữ trí thức, thành công trong sự nghiệp của họ thường bắt đầu muộn hơn đồng nghiệp nam, vì thời gian nghỉ sinh con, nuôi con nhỏ, vì gánh nặng của công việc gia đình. Sự trá hình, tinh vi của nhiều loại hình định kiến làm cho quá trình nhận dạng và thay đổi chúng càng trở nên khó khăn, phức tạp.

Định kiến và phân biệt đối xử theo giới là rào cản sự phát triển của phụ nữ và phát triển xã hội. Gánh nặng “vai trò kép” của phụ nữ chỉ ra một thực tế là đa số phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nông thôn dành nhiều thời gian làm việc và có quá ít thời gian nghỉ ngơi giải trí so với nam giới. Gánh nặng này ảnh hưởng tới sức khoẻ thể chất của phụ nữ. Đây là một chỉ báo quan trọng có nguồn gốc từ định kiến và phân biệt đối xử đối với sự phân công đối xử theo giới. ở một khía cạnh khác, việc người phụ nữ phải đảm nhận hầu hết các công việc trong gia đình sẽ hạn chế thời gian họ tham gia các công việc xã hội. Do đó phụ nữ bị hạn chế về mặt nhận thức xã hội, khía cạnh này phản ánh chỉ báo phát triển tinh thần ở phụ nữ bị hạn chế so với nam giới.

Người ta nhận thấy rằng tình trạng suy dinh dưỡng và tỉ lệ tử vong của trẻ em có mối liên quan chặt chẽ với trình độ học vấn của các bà mẹ. Trẻ em là đối tượng trực tiếp phải chịu thiệt thòi do các bà mẹ ít học, không được trang bị những hiểu biết và kỹ năng cần thiết trong việc giáo dục và chăm sóc con cái. Sự thất học và phụ thuộc vào người khác của người mẹ sẽ lấy đi ở họ sự tự tin, lòng tự trọng, làm suy yếu khả năng nuôi dưỡng và bảo vệ đứa trẻ. Kết quả, người mẹ không thể nuôi dưỡng con theo những cách thức đúng đắn, khoa học. Đây là một trong những nguồn gốc chủ yếu dẫn tới tình trạng suy dinh dưỡng và tử vong của trẻ nhỏ. Những bà mẹ có trình độ học vấn cao thường sinh ít con hơn, lập gia đình muộn hơn, có sự hiểu biết tốt hơn về kế hoạch hóa gia đình, quan tâm đến chế độ dinh dưỡng và tiêm chủng cho trẻ nhỏ đầy đủ hơn. Với trình độ học vấn của mình, họ tự chủ trong việc quyết định thời điểm sinh con, số lượng con và các biện pháp tránh thai mà họ muốn sử dụng. Một số nghiên cứu đã cho thấy mối tương quan tỉ lệ thuận giữa trình độ học vấn của người mẹ và kết quả học tập của con cái. Nếu trình độ học vấn của người mẹ càng cao thì thành tích trí tuệ của con cái họ càng lớn (Rosenzwweig và Wolpin,1994). Thực tế này cho thấy những người mẹ có học vấn cao có khả năng chỉ bảo con cái mình tốt hơn, thông qua việc dạy dỗ ở nhà và là tấm gương cho con cái noi theo. Trình độ học vấn của người mẹ có một tầm quan trọng rất lớn đến tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe và thành tích trí tuệ của trẻ nhỏ. Vì vậy, hạn chế phụ nữ và trẻ em gái đến trường hoặc không tạo điều kiện cho họ được hưởng một nền giáo dục ở những cấp cao hơn, đồng nghĩa với việc tước bỏ nhiều cơ hội để thế hệ sau có một thể chất khỏe mạnh hơn và một nền học vấn tốt hơn.

ở một số nước trên thế giới, những nghiên cứu sâu trong lĩnh vực sức khoẻ tinh thần cũng đã chỉ ra một số tổn hại tâm lý khó đo lường đối với phụ nữ, nhất là những phụ nữ thường xuyên làm các công việc gia đình. Đó là trạng thái căng thẳng tinh thần (stress), sự tổn thương lòng tự trọng, mất lòng tin vào bản thân và tương lai. Có thể nói, cái giá của định kiến và phân biệt đối xử theo giới dưới khía cạnh tâm lý thường không dễ được nhìn thấy.

Đứng trước xu thế của sự thay đổi, nhiều phụ nữ đang bị đặt trước một sự lựa chọn khó khăn: lui về chăm sóc gia đình hay phấn đấu cho nghề nghiệp? Chọn con đường phấn đấu trong lĩnh vực nghề nghiệp mà bớt thời gian chăm sóc gia đình dễ làm người phụ nữ rơi vào mặc cảm tội lỗi, trong khi xã hội cho rằng công việc gia đình là thiên chức của phụ nữ. Trường hợp nếu không thể vượt qua được “mặc cảm” đó, phụ nữ thường chọn giải pháp lui về với các công việc gia đình hoặc cố gắng cáng đáng cả hai vai trò. Sự lựa chọn nào quả thực cũng là khó khăn với người phụ nữ.

Cái giá tiếp theo phải trả cho định kiến và phân biệt đối xử theo giới là làm kìm hãm sự phát triển xã hội nói chung. Sự phân biệt đối xử với theo giới làm mất cân bằng giới trong phát triển, đồng thời làm mất đi tiềm năng, vai trò người phụ nữ trong phát triển. Thực tế ở nhiều quốc gia cho thấy, phân biệt đối xử với theo giới ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và phúc lợi xã hội. Sự phân biệt đối xử về giới thu hẹp các cơ hội dành cho phụ nữ, cũng như hạn chế vai trò và khả năng của họ trong quá trình tham gia và thụ hưởng những thành quả của sự phát triển. Đứng về phương diện quốc gia, sự phân biệt đối xử theo giớivới phụ nữ và trẻ gái ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế do không tận dụng hết tiềm năng sản xuất và sức sáng tạo của phụ nữ.

Cụm từ “bình đẳng nam- nữ” được đưa vào Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946. Tuy nhiên, đứng từ góc độ nghiên cứu lý luận, vấn đề bình đẳng giới trong vòng mười năm trở lại đây mới bắt đầu được quan tâm và phải đến nghị quyết 23 của Đảng (3/2003) thì ba chữ “bình đẳng giới” mới được đưa vào thực tiễn và mang ý nghĩa của khoa học giới. Vấn đề định kiến và phân biệt đối xử theo giới là một biểu hiện cụ thể của bất bình đẳng giới. Xét từ góc độ nghiên cứu khoa học, định kiến và phân biệt đối xử theo giới là một khái niệm mới mẻ ở Việt Nam. Những công trình nghiên cứu về định kiến và phân biệt đối xử theo giới ở nước ta chưa nhiều, chưa hệ thống và ít nhận được sự quan tâm của giới học thuật. Vì vậy, về mặt lý luận, nghiên cứu nguồn gốc phát sinh, nguồn gốc củng cố của những loại hình định kiến giới đang tồn tại và xem xét ảnh hưởng của chúng tới sự phát triển của phụ nữ và nam giới trong những bối cảnh văn hoá - xã hội khác nhau là điều rất ý nghĩa.

Đứng trên phương diện thực tiễn, nghiên cứu về định kiến và phân biệt đối xử theo giới đặc biệt cần thiết đối với những nhà hoạch định chính sách và những ai quan tâm đến hoạt động bình đẳng giới tại Việt Nam. Chúng ta đã có những chỉ báo toàn cầu, chỉ báo cấp quốc gia và thậm chí có những con số thống kê về tình hình bất bình đẳng giới ở từng địa phương cụ thể. Những chỉ báo mang tính định lượng là những chỉ báo rất quan trọng. Tuy nhiên, những chỉ báo mang tính truyền thống này chưa thâu tóm được độ sâu và chưa phản ánh được chất lượng của các mối quan hệ giới. Hơn nữa, những chỉ báo định lượng không lý giải cho chúng ta biết nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại dai dẳng. Vì vậy, việc tìm hiểu định kiến và phân biệt đối xử theo giới sẽ giúp gợi lên những suy nghĩ về vấn đề giới, cung cấp thông tin cho những nhà hoạch định chính sách, tạo ra động lực cho những thay đổi cụ thể và nhằm bổ sung cho những số liệu định lượng đã có.

Với sự cần thiết của việc nghiên cứu định kiến và phân biệt đối với phụ nữ được trình bày ở trên, chúng tôi hy vọng cuốn sách chuyên khảo này- “Định kiến và phân biệt đối xử theo giới- Lý thuyết và thực tiễn” - sẽ cổ vũ độc giả xem xét đến mối quan hệ giới nhạy cảm ở Việt Nam. Điều này giúp chúng ta có thể dự đoán tốt hơn các tác động khác nhau của các chuẩn mực văn hoá - xã hội tới phụ nữ và nam giới. Từ đó, chúng ta có thể xây dựng một mô hình can thiệp đủ mạnh để phá vỡ vòng quay của định kiến và phân biệt đối xử - rào cản đối với sự tiến bộ của phụ nữ hiện nay.

(Nguồn: Trung tâm nghiên cứu phụ nữ, ĐHQG Hà Nội)...

 

 
VNSW xin giới thiệu bài viết "Phân tích yếu tố giới trong các dự án phát triển ở nông thôn Việt Nam" của GS.TS Trần Thị Minh Đức, trường ĐH KHXH&NV Hà Nội.

Khoảng 15 năm lại đây, cùng với sự nỗ lực của chính phủ Việt Nam trong việc xoá đói, giảm nghèo, các tổ chức phi chính phủ quốc tế (INGO) đã đưa vào các vùng nông thôn nghèo rất nhiều dự án/ chương trình, với mục đích hỗ trợ các cộng đồng nghèo phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Các dự án này tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực: truyền thông, nông nghiệp, giáo dục, nâng cao năng lực, cứu trợ thảm họa, tài chính vi mô, chăm sóc sức khỏe cơ bản, dĩnh dưỡng, bảo vệ môi trường, xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo tồn và hỗ trợ người khuyết tật [4]. Cùng với việc thực hiện các dự án/chương trình trên, khái niệm Phát triển cộng đồng, làm phát triển - nhìn từ góc độ khoa học- mới thực sự được nhiều người biết đến.

Phát triển cộng đồng là một quá trình tạo ra sự thay đổi trong nhận thức và hành vi của người dân, trao quyền cho họ và giúp họ tự giải quyết vấn đề yếu kém của mình, thông qua việc tham gia vào các dự án/ chương trình được triển khai ở cộng đồng, với mục đích cả nam giới và phụ nữ cùng là đối tượng cho phát triển. Tuy nhiên cần phải khẳng định rằng: không phải tất cả các chương trình/ dự án trên đều mang tính phát triển bền vững. Một trong nhiều nguyên nhân gây ra tính thiếu bền vững của dự án là: dự án chưa xem xét thấu đáo đến yếu tố giới trong quá trình thực hiện.

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ phân tích sự tham gia thực tế của phụ nữ và nam giới trong một số dự án / chương trình ở một số xã thuộc các cộng đồng nghèo tỉnh Hà Tây, Bắc Giang, Nam Hà, Phú Thọ, Quảng Bình, Quảng Trị – Các vùng đang có những chương trình, dự án với sự giúp đỡ của các các tổ chức phát triển. Việc phân tích này dựa trên kinh nghiệm của chúng tôi về Đánh giá hiệu quả của dự án và các khoá tập huấn về Công tác xã hội và phát triển cộng đồng, về Phân tích Giới trong các dự án... tại các cộng đồng nói trên.

Thực tế cho thấy, so với nam giới, khả năng tham gia của phụ nữ nông thôn trong các dự án đang triển khai ở cộng đồng còn bị hạn chế. Các nguyên nhân chủ yếu là  do gánh nặng công việc gia đình chủ yếu tập trung vào người phụ nữ. Phụ nữ nông thôn còn bị hạn chế về giáo dục, đào tạo và họ còn thiếu các kinh nghiệm nghề nghiệp. Ở nông thôn hiện nay còn nhiều định kiến về phụ nữ và giá trị của họ trong các hoạt động xã hội.

Trước khi phân tích yếu tố giới trong các dự án/ chương trình, cần phải nhấn mạnh rằng: Việc đưa phụ nữ hoặc nam giới (hoặc cả 2 giới) tham gia vào các dự án phát triển cộng đồng, ngoài quan niệm truyền thống của cộng đồng về việc phụ nữ hay nam giới “có thể” hay “không thể” làm được việc này, việc khác, còn phụ thuộc vào chính sách lồng ghép giới ở mỗi quốc gia, cũng như ở chính các tổ chức hỗ trợ dự án. Về mặt vĩ mô, lồng ghép giới được hiểu là biện pháp chiến lư­ợc nhằm đ­ưa các mối quan tâm và thực tế trải nghiệm của cả phụ nữ và nam giới trở thành khía cạnh xuyên suốt trong quá trình hoạch định, thực hiện, giám sát và đánh giá chính sách, ch­ương trình, dự án ở tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, sao cho phụ nữ và nam giới có thể h­ưởng lợi một cách bình đẳng và chấm dứt tình trạng bất bình đẳng (Hội đồng kinh tế - xã hội của Liên Hiệp Quốc, 1997). Hiện nay vấn đề “Lồng ghép giới” đang được quan tâm rất nhiều bởi các nhà hoạch định chính sách về Giới ở Việt Nam và các tổ chức INGO đang hoạt động tại Việt Nam.

Với quan niệm rằng: Trong mỗi dự án/ chương trình, hay kế hoạch phát triển đều tiềm ẩn chứa đựng các yếu tố giới và nó có ảnh hưởng tốt, xấu đến quan hệ giữa nam giới và phụ nữ trong một nhóm xã hội cụ thể. Vì, suy cho cùng chúng đều trả lời câu hỏi: Dự án đáp ứng nhu cầu của ai? - AI (giới nào- nam hay nữ) có quyền quyết định về dự án? - AI (giới nào- nam hay nữ) đ­ược h­ưởng lợi từ dự án? Như vậy, phân tích giới trong các dự án ở cộng đồng nông thôn thực chất là đánh giá sự tham gia và hưởng lợi của phụ nữ và nam giới trong dự án đó, đánh giá mức độ ảnh h­ưởng của chúng đến quan hệ giữa nam giới và phụ nữ, để từ đó có h­ướng cải thiện tốt hơn cho mỗi giới.

Phần dưới đây sẽ phân tích một cách sơ bộ những dấu hiệu dễ nhận thấy nhất (thể hiện tính chất bề nổi) của những dự án mà các cộng đồng đã và đang thực hiện trong một số năm lại đây. Chúng tôi chỉ tập trung phân tích một số dự án mà theo chúng tôi chưa thật sự thành công, do khi thực hiện đã không tính đến  yếu tố giới, như: dự án Tiết kiệm tín dụng; dự án Làm mẹ an toàn; dự án đưa Khoa học, Kỹ thuật vào trồng trọt, chăn nuôi; chương trình Câu lạc bộ không sinh con thứ ba; chương trình Tập huấn Giới và lồng ghép Giới trong các dự án. Những phân tích của chúng tôi chỉ có ý nghĩa xem xét sự hạn chế cụ thể của một dự án/chương trình mà khi thực hiện đã bỏ qua, hoặc xem nhẹ mức độ tham gia và hưởng lợi của cả phụ nữ và nam giới – Xem xét ở khía cạnh khoa học giới, mà không có giá trị phê phán kết quả của nó.

Vậy, yếu tố giới thể hiện như thế nào trong các dự án/ chương trình mà các cộng đồng nghèo nêu trên đã triển khai thực hiện?

1. Giới nào được hưởng lợi từ một dự án cụ thể?

Vấn đề ai (nam giới hay nữ giới) được hưởng lợi từ các dự án là một chỉ báo về bình đẳng giới trong hưởng lợi từ các nguồn lực cộng đồng. Thông thường, ở các vùng nông thôn nghèo, vấn đề định kiến và phân biệt đối xử với phụ nữ được thể hiện rất rõ trong mọi khía cạnh của đời sống xã hội. Ở đó, nam giới, trẻ em trai thưòng là đối tượng được quan tâm đầu tiên và hưởng thụ nhiều hơn so với phụ nữ và trẻ em gái.

Phân tích dự án ưu tiên Xây sân bóng đá tại các xã ở nông thôn để thấy thực tế này. Hiện nay tại nhiều cộng đồng nông thôn nghèo, đặc biệt ở các vùng được hỗ trợ dự án, người dân thường cảm thấy “bức xúc” khi chưa xin được kinh phí hoặc chưa tìm được đất để thực hiện việc xây sân bóng đá cho trẻ em trong xã. Người dân cho rằng hoạt động vui chơi giải trí của trẻ em trong các cộng đồng nghèo chỉ có duy nhất là sân bóng đá. Nếu có sân bóng đá, trẻ em sẽ được vui chơi, nâng cao thể lực, mở rộng mối quan hệ với cộng đồng... Đây là  sự quan tâm xác đáng của các cấp lãnh đạo, người dân và cần được ủng hộ. Nhưng xét từ góc độ giới, trẻ em nào được hưởng lợi từ hoạt động vui chơi giải trí này? Xét về mặt truyền thống, người dân khó có thể chấp nhận một em gái chơi đá bóng. Vậy các em gái ở nông thôn chơi gì và chơi ở đâu? Câu hỏi này chúng tôi đặt ra trong nhiều khoá tập huấn về Phát triển cộng đồng tập trung vào trẻ em. Tuy nhiên không có mấy cán bộ hoặc người dân quan tâm.

2. Dự án giúp thỏa mãn nhu cầu giới chiến l­ược hay nhu cầu giới thực tế?

Nhu cầu giới thực tế (nhu cầu trước mắt, tạm thời) là những nhu cầu có liên quan đến cải thiện điều kiện sống hiện tại, nhưng vẫn duy trì mỗi quan hệ lệ thuộc của phụ nữ và nam giới. Trong khi nhu cầu giới chiến lược (nhu cầu phát triển lâu dài, lợi ích lâu dài) là nhu cầu giúp cho người phụ nữ thoát khỏi vị trí lệ thuộc, yếu kém, làm thay đổi mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ [1]

Xem xét dự án “Làm mẹ an toàn” đã và đang được thực hiện ở nhiều vùng nông thôn, chúng tôi nhận thấy dự án này chỉ tăng cường hiểu biết về cách chăm sóc, nuôi con nhỏ, đáp ứng được vai trò giới truyền thống ở nông thôn – người mẹ là người chăm sóc con cái, đặc biệt khi con còn nhỏ. Sau khi dự án kết thúc, những phụ nữ tham gia dự án đã “không dám” giao con cho chồng chăm sóc. Theo họ: “Người chồng nuôi con sẽ không khoa học bằng vợ”, rằng “Nam giới thiếu trách nhiệm trong việc chăm sóc con”. Còn nam giới, họ cảm thấy hài lòng khi phụ nữ đảm đương tốt công việc chăm sóc con. Như vậy, dự án Làm mẹ an toàn chỉ đáp ứng được nhu cầu trước mắt, tạm thời của phụ nữ. Nếu dự án có tên là “Làm cha mẹ an toàn”, với đòi hỏi phải có sự tham gia vào khoá học cả phụ nữ và nam giới, nó sẽ tạo điều kiện cho nam giới có hiểu biết tốt hơn về quá trình chăm sóc con nhỏ, xóa bỏ được định kiến cho rằng “ Nuôi con là thiên chức của người phụ nữ”. Khi nam giới san sẻ bớt gánh nặng công việc gia đình, phụ nữ có thêm thời gian nghỉ ngơi và tham gia vào các hoạt động của cộng đồng, năng lực của họ sẽ được nâng cao. Một dự án nếu đáp ứng nhu cầu chiến lược của phụ nữ, nó sẽ làm biến đổi thực tế phân công lao động theo giới và làm thay đổi vị trí, vai trò của phụ nữ, góp phần nâng cao bình đẳng giới.

3. Phụ nữ và nam giới tham gia như thế nào trong các dự án và năng lực của ai được nâng cao?

Hiện đang có một khoảng cách rất lớn giữa sự tham gia của phụ nữ và nam giới vào các quá trình ra quyết định. Các dự án ở cộng đồng hiện nay chủ yếu do nam giới quản lý và giám sát. Có nhiều lý do để duy trì tình trạng này. Các lý do thường được lãnh đạo cộng đồng nói đến là: Do phụ nữ kém quyết đoán hơn nam giới, phụ nữ thiếu kinh nghiệm hoạt động xã hội, làm dự án phát triển cộng đồng thì không có tiền (làm tình nguyện) nên phải lồng ghép công việc - Có nghĩa là các cán bộ đang làm công tác xã thì kiêm nhiệm luôn việc quản lý dự án. Vì thế ở các vùng nông thôn nghèo có dự án hiện nay, các vị trí trong Ban điều hành dự án chủ yếu là nam giới – những cán bộ xã (Trừ chương trình tập huấn Giới, người điều hành là phụ nữ. Vì vị trí hội trưởng Hội phụ nữ xã không phải là nam giới).

Bình đẳng giới đòi hỏi phụ nữ  phải được tham gia trong mọi khâu của một dự án phát triển. Thông thường phụ nữ tham gia vào các công việc ít quan trọng (không có tính quyết định), phụ nữ ít có tiếng nói trong các dự án cộng đồng. Xét từ khía cạnh giới, sự tham gia của nam và nữ trong các dự án/chương trình ở cộng đồng cần được cụ thể hoá theo các cấp độ khác nhau, như : Ai (Phụ nữ hay nam giới) biết? Ai bàn? Ai làm? Ai kiểm tra và giám sát?

Phân tích dự án Phát triển kinh tế hộ tại 3 xã ở QB về 2 chương trình Làm vườn và Chăn nuôi do các nhóm sở thích lập nên, nhằm giúp người dân được vay vốn, vay giống để phát triển kinh tế, cho thấy: Tổ chức hỗ trợ dự án đề nghị hình thành nhóm Làm vườn do Hội nông dân quản lý (toàn nam giới tham gia) và nhóm Chăn nuôi do Hội phụ nữ quản lý (toàn phụ nữ tham gia). Tại xã XT, người dân thường trồng cây tiêu (hạt tiêu) và vốn vay cho chương trình Làm vườn nhiều hơn rất nhiều so với vốn vay Chăn nuôi (nuôi lợn, gà). Sau một thời gian hoạt động, vì vốn vay cho Làm vườn được nhiều hơn, nên nhiều người đàn ông không cho vợ tham gia vào nhóm Chăn nuôi nữa. Dự án Làm vườn cuối cùng ngày càng thu hút nhiều nam giới tham gia. Nam giới được tiếp cận với nguồn vốn, được nâng cao kỹ năng trồng trọt, mở rộng hiểu biết (do được đi tham quan học hỏi kinh nghiệm ở các nơi) ... Và cuối cùng, khi hoạt động làm vườn nâng cao được kinh tế hộ gia đình, vai trò lệ thuộc của phụ nữ vào nam giới càng khẳng định. Trong khi phụ nữ vẫn tham gia vào các công đoạn chính của hoạt động làm vườn, như: chăm sóc cây, thu hoạch và bán hạt tiêu. Nhưng họ không phải là người được trực tiếp vay vốn nên ý kiến của họ không có mấy giá trị với người chồng. Những người phụ nữ, dù là người hàng ngày chăm sóc cây nhưng họ cũng không được cử đi tập huấn về kỹ thuật trồng và chăm sóc cây, khả năng giao tiếp và tự khẳng định của họ cũng bị hạn chế vì ít được tham gia vào các ’’sinh hoạt khoa học’’ của cộng động. Xét từ góc độ giới, tổ chức hỗ trợ chương trình và lãnh đạo cộng đồng cần tính đến khía cạnh bình đẳng đối với sự tham gia của phụ nữ và nam giới trong các hoạt động nâng cao năng lực và phát triển kinh tế tại địa phương.

Theo quan niệm truyền thống ở nông thôn, những gì được gọi là “công to, việc lớn”, những gì được gọi là “khoa học, kỹ thuật” v.v... thường gắn với nam giới, người chồng. Ngay cả vấn đề trồng trọt, chăn nuôi – Công việc chủ yếu được giao phó cho phụ nữ nông thôn, và phụ nữ rất có kinh nghiệm trong công việc này. Nhưng, quyết định nuôi con gì, trồng cây gì cuối cùng vẫn là người đàn ông ! Vì vậy, các dự án Nâng cao năng lực khoa học kỹ thuật (dự án khuyến nông) ở nhiều vùng thể hiện rất rõ thái độ định kiến của cộng đồng trong thành phần tham gia vào các lớp tập huấn. Ở các lớp này, nam giới tham gia là chủ yếu. Điều này gây mơ hồ rằng, các khoá tập huấn về khoa học kỹ thuật là tập trung nhắm tới nam giới ! Việc tăng năng lực cho nam giới qua các khoá học, trong khi nam giới theo truyền thống thường ít quan tâm đến các công việc trên là một bất cập đối với một dự án/ chương trình mang tính phát triển. Như vậy, các khoá tập huấn đã chưa cung cấp hiểu biết, kiến thức và tăng cường được khả năng cho đúng đối tượng cần được hưởng lợi - Đó là phụ nữ. Nhìn ở một khía cạnh khác, nó còn làm tăng sự lệ thuộc ảo nhiều hơn của phụ nữ vào nam giới.

Trong một cuộc đánh giá của chúng tôi tại xã TS, YT, tỉnh BG về năng lực của phụ nữ xã khi tham gia vào các dự án, các thành viên trong Ban điều hành đều đánh giá rất cao vai trò của phụ nữ trong những dự án có sự tham gia của họ. Chị em phụ nữ thường được đánh giá là làm việc có hiệu quả, chu đáo, tiết kiệm và thực tế hơn nam giới... Tuy nhiên Ban điều hành lại lập luận rằng: Công việc quản lý dự án rất vất vả do phải đi lại nhiều, mất nhiều thời gian, phải đi sớm về muộn. Ban lãnh đạo xã không muốn các chị vì công việc chung làm ảnh hưởng tới gia đình. Vì vậy, họ chỉ để các chị tham gia vừa phải, tham gia có chừng mực ! Trong khi các chị lại nói rằng họ rất vui khi được giao việc và họ rất muốn được cống hiến ! Tổng kết các dự án đã và đang thực hiện ở đây, hầu như vắng mặt sự tham gia của phụ nữ trong các khâu quản lý, kiểm tra, giám sát. Nếu dự án đa dạng hóa sự tham gia của cộng đồng ở các mức khác nhau – Có nghĩa là công việc chung của cộng đồng được san xẻ cho nhiều người cùng tham gia, cả nam giới và phụ nữ cùng được quản lý và giám sát. Theo đó, khả năng của nhiều người dân trong cộng đồng (đặc biệt là của phụ nữ) sẽ được phát huy và phát triển. Và, người dân sẽ có trách nhiệm hơn với thực tế của cộng đồng mình.

4. Dự án có nhắm tới cải thiện mối quan hệ gắn bó giữa hai giới theo hướng tích cực?

Xét từ góc độ văn hoá ứng xử, các mối quan hệ giữa phụ nữ với nam giới trong một cộng đồng bao giờ cũng biểu hiện sự tương thích theo những trật tự nhất định, chứa đựng cả khía cạnh tích cực và tiêu cực. Điều gì sẽ xảy ra khi một dự án/ chương trình được thực hiện ở cộng đồng nhằm mục đích nâng cao nhận thức, mức sống của người dân, nhưng nó lại có thể phá huỷ mối quan hệ gắn bó giữa nhóm nam giới và nhóm nữ giới, do thiếu hiểu biết khoa học về Giới?

Chương trình ‘’Câu lạc bộ không sinh con thứ ba’’ được thành lập ở các thôn thuộc xã AP tỉnh HT, do các chi hội phụ nữ thôn tổ chức. Các gia đình ở đây có truyền thống sinh khá nhiều con. Khi chưa có con trai thì người vợ vẫn cố gắng sinh cho được. Đây là vùng nông thôn có điều kiện tự nhiên không ưu đãi, giao thông đi lại khó khăn, đời sống kinh tế nghèo khó, dù cách Hà Nội có 65 km. Mục đích của câu lạc bộ là hạn chế việc sinh đẻ. Các câu lạc bộ khi mới ra đời đã thu hút rất nhiều chị em phụ nữ trẻ tham gia. Chị em cảm thấy phấn khởi khi được nâng cao hiểu biết về tâm – sinh lý lứa tuổi, về cách nuôi dạy con, về an toàn tình dục.v.v... Niềm vui càng nâng cao khi chị em được bày tỏ, được lắng nghe, được cười đùa cùng nhau. Nhưng “Câu lạc bộ không sinh con thứ ba” đã không tồn tại bền vững do các ban chủ nhiệm câu lạc bộ chỉ đáp ứng nhu cầu nâng cao kiến thức, kỹ năng cho chị em phụ nữ, nhắm tới việc vận động phụ nữ không sinh con thứ ba, mà bỏ lơ không quan tâm đến nhận thức, nhu cầu và tình cảm của nam giới. Xét từ góc độ văn hoá, đây là cộng đồng rất coi trọng giá trị của đứa con trai trong việc thờ cúng tổ tiên và nối dõi tông đường. Mục tiêu giảm sinh đẻ chỉ nhắm tới phụ nữ đã khiến cho nam giới (những người chồng thuộc gia đình chưa có con trai) muốn gây hấn với vợ, họ ngăn cản không cho vợ tham gia... Câu lạc bộ đã bị tẩy chay vì không tính đến vai trò của nam giới trong việc hạn chế sinh đẻ.

Dự án tiết kiệm tín dụng ở KH, MH tỉnh QB cũng là một dẫn chứng cho vấn đề nâng cao vị thế phụ nữ và cải thiện mối quan hệ vợ chồng trong gia đình. Dự án cho chị em phụ nữ nghèo vay vốn qua hình thức ban đầu là thế chấp. Với hình thức thế chấp, nam giới lại là người được vay vốn (vì nam giới thường là người đứng tên sổ đỏ của gia đình). Do đó nam giới quyết định đồng vốn được vay. Dự án với danh nghĩa là cho phụ nữ nghèo vay vốn. Nhưng, sử dụng vốn để trồng cây gì, nuôi con gì, hay dùng làm việc gì thì phụ nữ chỉ có quyền tham gia, mà không có quyền quyết định. Nhiều vụ cãi vã trong gia đình xuất hiện, khi người chồng dùng đồng vốn không hiệu quả, hoặc không đúng với mục đích hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình.

Sang giai đoạn II, dự án Tiết kiệm tín dụng chuyển sang hình thức tín chấp, thông qua việc thành lập những nhóm tiết kiệm nhỏ ở các chi hội phụ nữ thôn. Để được vay vốn, mỗi tháng các chị phụ nữ tham gia gửi tiết kiệm một số tiền nhỏ – cỡ 15.000đ (tiền này ban đầu để gây quỹ chung và duy trì hoạt động của ban quản lý dự án). Thông qua nhóm tiết kiệm này, tiền cho vay tín dụng được xét quay vòng từ người phụ nữ nghèo nhất được bình bầu trong nhóm. Các chị phụ nữ đã đầu tư vốn để phát triển chăn nuôi bò và lợn rất hiệu quả. Thông qua nhóm tiết kiệm tín dụng, phụ nữ cũng được đi tham quan các mô hình điểm, được tập huấn nâng cao năng lực quản lý kinh tế hộ. Ban quản lý dự án (Hội phụ nữ) được tập huấn về công tác quản lý và dự án được chuyển giao dần cho họ quản lý. Ban đầu, ý kiến của các chị trong ban quản lý chỉ có giá trị trong khuôn khổ dự án. Càng về sau uy tín của họ càng nổi trội và các chị được tham gia nhiều hơn vào các hoạt động của cộng đồng, khi họ đã thực hiện ngày càng tốt dự án tiết kiệm- tín dụng. Về phía gia đình, ý kiến của những người phụ nữ làm kinh tế giỏi được người chồng lắng nghe hơn. Xuất hiện một sự bàn bạc bình đẳng hơn trong gia đình khi họ cùng quyết định sử dụng đồng vốn cho có hiệu quả. Trong vai trò là người quyết định có vay vốn hay không, các chị phụ nữ đã làm cho  người chồng phải thận trọng trong các quyết định của họ và cân nhắc ý kiến của vợ. Trong tư cách là người vợ được tôn trọng, được bình đẳng, nhiều chị em đã cố gắng để được thừa nhận hơn nữa, để chứng tỏ khả năng của bản thân và để xoá bỏ những định kiến về sự lệ thuộc và kém cỏi của phụ nữ trong các hoạt động cộng đồng.

Có nhiều tiêu chí đánh giá về sự thành công của một chương trình tập huấn cho người dân ở cộng đồng. Phân tích từ góc độ giới, các lớp tập huấn về Giới không thể coi là thành công khi chỉ có phụ nữ tham gia khoá học. Thực tế đào tạo cho thấy, nhiều trường hợp các lớp tập huấn được tổ chức thông qua Hội phụ nữ, vì thế nam giới ít được mời tham gia và họ cũng không tham gia. Khi đánh giá hiệu quả của khóa tập huấn, nam giới thường nói tập huấn Giới là tập huấn cho phụ nữ, do đồng nhất khái niệm Giới và khái niệm Phụ nữ. Nam giới thậm chí nghĩ rằng các khóa học về giới là thúc đẩy phụ nữ chống lại nam giới, là hướng đến việc phụ nữ đòi quyền lãnh đạo.... Các lớp tập huấn nâng cao năng lực Giới nếu chủ yếu chỉ có phụ nữ tham gia sẽ không cải thiện được tình hình bất bình đẳng giới – dù xét ở bình diện nhận thức. Khi phụ nữ thay đổi mà nam giới không thay đổi thì cũng không cải thiện mối quan hệ giới.

Tóm lại, kết quả mong đợi từ chiến lược lồng ghép giới trong các dự án phát triển tại các vùng nông thôn nghèo là nhắm đến sự tham gia bình đẳng của nam và nữ vào các quá trình ra quyết định về các vấn đề ­ưu tiên và phân bổ nguồn lực; tạo ra sự tiếp cận và kiểm soát một cách bình đẳng của nam và nữ đối với các cơ hội, nguồn lực và thành quả phát triển. Tuy nhiên, những thực tế rút ra từ các dự án trên đã cho thấy yếu tố Giới thực sự chưa được xem xét thấu đáo khi triển khai. Để những dự án/ chương trình tồn tại bền vững ở các cộng đồng nông thôn nghèo, thiết nghĩ các tổ chức tài trợ, các tác viên cộng đồng và lãnh đạo cộng đồng phải lưu tâm hơn nữa tới mức độ tham gia của phụ nữ và nam giới, đào tạo nâng cao năng lực nhận thức cho cả hai giới, đặc biệt là phụ nữ, trao quyền cho cả hai giới để dần dần họ tự giải quyết vấn đề của cộng đồng mình.



Tài liệu tham khảo

  1. Đưa vấn đề giới vào phát triển thông qua sự bình đẳng giới về quyền, nguồn lực và tiếng nói – ngân hàng thế giới, NXB Văn hoá thông tin, 2001.

  2. Giới trong “ Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo”- Trung tâm hỗ trợ phát triển vì Phụ nữ và trẻ em, kết hợp với Tổ chức xây dựng năng lực Quốc tế Đức, Hà Nội 2005.

  3. Giới trong chính sách công cộng ở Việt Nam – DPU- chương trình kế hoạch hoá và chính sách giới, 1998.

  4. INGO Directory, VUFO-NGO Resource Cenre, 2006.

  5. Phân tích tình hình và đề xuất chính sách nhằm tăng cường tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới ở VN, Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ kết hợp với 4 nhóm nghiên cứu, được tài trợ bởi UNDP, đại sứ quán Hà Lan, CIDA, Ngân hàng thế giới, ADB, và quỹ Ford, 11/2000.

Khoa học về Giới đã có bề dày phát triển hàng trăm năm tại những trường Đại học lớn trên thế giới như đại học Havard (Mỹ), Đại học Melbourne (Úc), Đại học Bradford (Anh)… đi kèm với sự đa dạng về nội dung đào tạo những môn học có liên quan đến Giới. Giới được tiếp cận từ nhiều lĩnh vực, ngành học khác nhau như: Nghệ thuật; Chính trị; Luật; Sức khỏe; Xã hội, văn hóa; Tôn giáo, chủng tộc, sắc tộc… Tuy nhiên, ở Việt Nam, ngành khoa học này mới phát triển từ khoảng 20 năm trở lại đây mà tiền thân của nó là những nghiên cứu về phụ nữ. Hiện nay, theo thống kê trong cả nước, có 13 trường Đại học có bộ môn/khoa đào tạo về Giới. Mặc dù một số trường Đại học khối khoa học Xã hội (ĐHKHXH&NV - ĐHQGHN, ĐH mở bán công TP HCM, ĐH Khoa học Huế, Học viện Báo chí và tuyên truyền…) đã có nghiên cứu và giảng dạy về Giới nhưng những chương trình nghiên cứu và giảng dạy về Giới hoàn toàn riêng biệt và bị bó hẹp trong một số khoa như Tâm lý học, Xã hội học. Đối với một số trường Đại học khối ngành Luật, Kinh tế, Kiến trúc… Giới được đưa vào giảng dạy bằng cách lồng ghép hoặc với tư cách là một môn tự chọn. Là một ngành học có thể nói còn khá non trẻ, việc đào tạo Giới đặt ra nhiều vấn đề đáng quan tâm. Một trong những vấn đề đó là chất lượng đào tạo Giới trong các trường ĐH.

Bài viết của chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề này từ cách nhìn nhận, đánh giá của sinh viên và giảng viên trong một số trường Đại học có đào tạo về Giới. Số liệu của bài báo này được lấy từ đề tài nghiên cứu “Đào tạo về Giới trong các trường Đại học ở Việt Nam” do Trung tâm nghiên cứu về Phụ nữ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì. Chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng bảng hỏi trên 181 sinh viên thuộc 3 trường ĐH có giảng dạy về Giới, đó là ĐH Khoa học xã hội nhân văn Hà Nội (bao gồm SV ngành Tâm lý học và Xã hội học), Học viện báo chí & tuyên truyền (SV ngành Xã hội học) và ĐH Đà Lạt (SV ngành Xã hội học và Công tác xã hội) và phỏng vấn bán cấu trúc 5 giáo viên chuyên dạy về Giới của một số trường Đại học. Bài viết này đề cập đến thái độ của SV với môn học có liên quan đến Giới ; phân tích nội dung và phương pháp giảng dạy về Giới và chỉ ra những thuận lợi, khó khăn trong việc dạy và học môn khoa học này.

1. Thái độ đối với môn học về giới của sinh viên

Trước hết, chúng tôi nhận thấy hầu hết các sinh viên sau khi được học về Giới đều có nhận thức đúng đắn về môn khoa học này. Theo sinh viên, nói đến Giới là nói đến sự tương quan về mặt xã hội giữa nam giới và nữ giới. Môn học liên quan đến Giới không nhằm hạ thấp đàn ông cũng không nhằm tôn vinh phụ nữ mà nó giúp nam giới và nữ giới hiểu hơn về các vai trò giới của nhau, khuyến khích họ phát huy tối đa năng lực của mình và nhận thấy những bất công về giới đang tồn tại trong đời sống xã hội gây cản trở cho quá trình phát triển. Điều này cũng chứng tỏ là nội dung giảng dạy về giới được đề cập đến từ góc độ khoa học về Giới chứ không mang tính chất tuyên truyền chính trị. Chính điều này sẽ khiến sinh viên nhận thấy tính chất khoa học, đúng đắn của môn học mình đang theo và hứng thú với nó. “Giới là môn khoa học tìm hiểu đặc điểm giới trong xã hội từ đó tìm ra những bất bình đẳng giới và tạo điều kiện cho người phụ nữ cũng như đàn ông phát triển năng lực của mình ” (Phiếu 27, Nữ). Không chỉ sinh viên nữ có ý kiến như trên mà phần lớn các sinh viên nam cũng có ý kiến tương đồng: “Giới là môn học giúp con người phát triển toàn diện và công bằng nhất” (Phiếu 110, Nam). Mặc dù sinh viên cho rằng giới là môn học nói về cả nam giới và nữ giới và bản chất của nó không nhằm bênh vực hay phê phán phái nào nhưng trong quá trình học và tiếp cận các nguồn tài liệu, nhiều sinh viên cho rằng phần lớn những nghiên cứu chỉ đề cập đến các vấn đề của phụ nữ, xem phụ nữ như một nhóm xã hội yếu thế, gặp nhiều thiệt thòi, cần phải được bênh vực và tạo điều kiện hơn cả. Do vậy, không ít sinh viên cảm thấy dường như môn học về giới chỉ vì quyền lợi của phụ nữ mà thôi. “Bản chất của môn học về giới không nhằm nói xấu đàn ông nhưng sự phổ biến trong các nghiên cứu và các vấn đề được bàn tới về quyền bình đẳng cho người phụ nữ xuất hiện quá nhiều, khiến người học có thể có cảm giác giới là môn học nói xấu đàn ông” (Phiếu 99, Nữ), hoặc sinh viên khác cho rằng: “Môn học này không đánh giá nhiều về chuyện đàn ông có tốt hay không. Tuy nhiên, tôi thấy nó hơi nghiêng về phụ nữ. Do cách mà người dạy truyền đạt và quan niệm sẽ ảnh hưởng đến nội dung môn học” (Phiếu 104, Nữ).

Theo kết quả điều tra của chúng tôi thì tất cả sinh viên đều nhận thấy môn học về Giới được giảng dạy trong chương trình học có mối liên hệ mật thiết, quan trọng đối với ngành học của mình. “Môn giới gần như là trọng tâm khi học đến các môn khác” (Phiếu 21). Không những thế, phần lớn sinh viên cũng đánh giá những kiến thức về giới được học sẽ giúp ích rất nhiều cho công việc trong tương lai: “Môn học này giúp cho chuyên ngành của tôi khi làm việc với gia đình từng cá nhân cụ thể, khi đó tôi sẽ biết việc cần áp dụng những kiến thức gì khi làm việc với thân chủ” (Phiếu 48). Điều này cho thấy các sinh viên khi được học về Giới đều đánh giá rất cao ý nghĩa khoa học và thực tiễn của môn học này. Bên cạnh đó, nó cũng phần nào giúp giải thích số lượng 82% sinh viên cảm thấy rất thích thú trong giờ học môn giới, 18% cảm thấy bình thường và đặc biệt không có sinh viên nào cảm thấy chán ghét môn học. Tuy nhiên, con số này có sự chênh lệch giữa sinh viên nam và sinh viên nữ. Chúng tôi nhận thấy tỉ lệ sinh viên nữ hứng thú với môn học về giới trong các trường là cao hơn sinh viên nam, tỉ lệ đó được trình bày trong bảng sau:

Biểu đồ 1: Thái độ đối với môn học về giới của sinh viên

 

Kết quả này cũng phù hợp với nhận xét của giảng viên về thái độ của sinh viên khi học môn Giới. Tất cả các giảng viên khi được hỏi đều cho rằng cả sinh viên nam và sinh viên nữ đều hứng thú với môn học về Giới nhưng thường thì sinh viên nữ quan tâm hơn. “Tôi thấy trước hết sinh viên có thái độ tò mò về môn học vì nhận thấy có những thông tin mới và sinh viên được thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu thông tin đó. Tôi cũng nhận thấy có sự khác biệt giữa sinh viên nam và sinh viên nữ. Thường thì sinh viên nữ quan tâm hơn đến môn học có lẽ xuất phát từ ý thức của mình là nhìn thấy bất bình đẳng giữa nam và nữ rõ hơn. Còn sinh viên là nam giới có vẻ nghi ngờ về nội dung học” (TTVA, Học viện hành chính Quốc gia HCM). Hay “Tôi thấy sinh viên nữ nhiệt tình hơn nam, … nhiều sinh viên nam không muốn nói đến nhưng có những em nam cũng rất nhiệt tình, chứng tỏ sự chia sẻ với phụ nữ. Về cơ bản thì tôi thấy sinh viên nam không nhiệt tình như sinh viên nữ” (LTQ, ĐHKHXH&NV).

Sự hứng thú của sinh viên đối với môn học về giới còn được thể hiện qua số lượng sinh viên chọn làm khóa luận tốt nghiệp về chủ đề giới. Có đến 27% số sinh viên trả lời muốn làm khóa luận tốt nghiệp về chủ đề này. Theo như đánh giá của PGS.TS. LTQ (ĐHKHXH&NV) thì “Số lượng sinh viên lựa chọn chủ đề về giới là đông. Tuy tôi chưa lượng giá được… nhưng khi ngồi hội đồng thì tôi thấy số lượng báo cáo khá nhiều. Tôi thấy những khóa luận đó nhìn chung là tốt, sinh viên nắm được vấn đề”.

Đáng chú ý là dù chỉ có 27% sinh viên lựa chọn làm khóa luận tốt nghiệp chủ đề giới nhưng khi được hỏi về dự định sau khi ra trường có làm việc trong lĩnh vực giới hay không thì có đến 67% số sinh viên lựa chọn là “Có”. Ngoài những ý kiến giải thích cho lựa chọn của mình là vì “Sự bình đẳng giữa nam và nữ trong xã hội ngày nay là vấn đề đang được quan tâm, giúp cho xã hội công bằng hơn đặc biệt là công bằng về giới” (Phiếu 179) thì có khá nhiều sinh viên muốn làm việc trong lĩnh vực giới vì cho rằng giới là lĩnh vực “Thú vị và mới lạ” (Phiếu 172) và “Tìm hiểu dễ” (Phiếu 177).

Phân tích các kết quả thu được, chúng tôi nhận thấy sinh viên khi học về Giới không chỉ có nhận thức đúng đắn về bản chất của môn học mà còn có thái độ thích thú khi được tiếp cận với ngành khoa học này, và điều này cũng được thể hiện ở một số lượng không nhỏ các sinh viên muốn tiếp tục làm khóa luận và/hoặc sau khi ra trường được làm việc trong lĩnh vực giới. Điều này cũng cho thấy việc đưa nội dung Giới vào giảng dạy trong các trường Đại học là hoàn toàn đúng đắn, cần thiết và phù hợp với xu thế chung của thời đại.

 2. Về nội dung giảng dạy và phương pháp giảng dạy môn Giới

Có một thực tế là để có thể tạo sự hứng thú học tập ở sinh viên thì nội dung môn học và phương pháp giảng dạy của giáo viên cũng là điều rất đáng chú ý tới. Khi được yêu cầu đánh giá về nội dung chương trình đào tạo Giới, 77.3 % sinh viên đã có đánh giá tốt về môn học. Cụ thể, 23.2% sinh viên đã đánh giá nội dung môn học về Giới “rất hay”, 54.1% sinh viên đánh giá chúng “hay”, 21% sinh viên nghĩ nội dung môn học về Giới chỉ ở mức “bình thường” và có 0.6% sinh viên đánh giá nội dung môn học về Giới “dở”.

Biểu đồ 2: Đánh giá của sinh viên về nội dung chương trình đào tạo Giới


Về phía giảng viên, họ cho biết họ đã cố gắng xây dựng nội dung chương trình Giới hiện tại rất gần với các chiến lược, chính sách và các mối quan tâm về giới ở Việt Nam. Một số giảng viên quan tâm cập nhật những kiến thức mới cũng như chỉnh sửa nội dung chương trình cho thích hợp với bối cảnh xã hội hiện tại để tăng hứng thú của sinh viên với môn học. “Trong chương trình giảng dạy hiện nay, mỗi năm tôi đều chủ động bỏ đi hoặc lướt qua các vấn đề cũ và đưa thêm vào những vấn đề mới cho cập nhật với tình hình hiện tại. Do đó, những vấn đề cơ bản, cốt lõi thì giữ nguyên nhưng phần thực tiễn, thực nghiệm thì thay đổi để chương trình không bị lạc hậu, cũ so với tình hình hiện tại”. (NTNM - Học viện báo chí và tuyên truyền).

Về phía sinh viên, dù khá hài lòng với chương trình đào tạo Giới hiện tại nhưng ngoài những kiến thức cơ bản và then chốt nhất của khoa học Giới, sinh viên mong muốn được tiếp cận với những kiến thức đa dạng hơn và gần gũi hơn với cuộc sống của họ. Những vấn đề mà sinh viên quan tâm phản ánh những thiếu hụt hoặc khó khăn của họ khi nhìn nhận và giải quyết chúng. Theo nguyện vọng của sinh viên, họ mong muốn được cung cấp thêm  kiến thức về những vấn đề xã hội như hiện tượng sống thử, quan hệ tình dục trước hôn nhân, ảnh hưởng của nạo phá thai đối với phụ nữ và trẻ em gái. Ngoài ra, các vấn đề như định kiến và khuôn mẫu xã hội với nam giới cũng như những vấn đề liên quan đến người đồng tính luyến ái, người lưỡng tính và chuyển giới cũng được một bộ phận sinh viên quan tâm đề xuất.

Tuy nhiên, qua điều tra chúng tôi nhận thấy rằng, thời lượng học dành cho môn Giới tuy ở các trường có khác nhau nhưng tựu trung lại cũng chỉ dao động từ 30 đến 45 tiết học. Với thời lượng học như vậy, giáo viên phải cân nhắc để “... Trong một thời gian hạn chế, tôi cố gắng chắt lọc các nét lớn” (LTQ, ĐHKHXH&NV). Nên dù biết nhưng mong muốn của sinh viên là hoàn toàn chính đáng thì giáo viên cũng không thể nào đáp ứng hết được nhu cầu hiểu biết thông tin từ phía các em. Vì thế cần phải có sự nỗ lực rất lớn không chỉ từ phía giảng viên, mà từ cả sinh viên trong việc tìm hiểu thêm những kiến thức liên quan ngoài chương trình học.

Để bài giảng thực sự lôi cuốn được người học thì ngoài nội dung hay, cách thức giảng dạy của giảng viên là điều vô cùng quan trọng. Như đánh giá của một giảng viên thì “Theo tôi, cần nâng cao kĩ năng và  phương pháp của người dạy. Nếu làm được điều đó thì có ích rất lớn cho người học. Vì nếu như kiến thức của người dạy dù chỉ là 7/10 mà có phương pháp tốt thì sẽ tạo quan tâm cho người học muốn tìm hiểu sâu hơn” (TTVA, Học viện hành chính  quốc gia HCM). Nếu như nội dung học cuốn hút được sinh viên đánh giá cao thì phương pháp giảng dạy của giáo viên cũng được nhiều sinh viên thừa nhận một cách tích cực. 90% số sinh viên được hỏi nhận thấy phương pháp của giáo viên mình là tốt, khá. 74% sinh viên nhận thấy bầu không khí lớp học khi học môn học về Giới là sôi nổi, hấp dẫn và cũng 74% số sinh viên nhận định so với các giờ học khác thì bầu không khí trong giờ học về Giới là lôi cuốn hơn. Điều này chứng tỏ sự cố gắng của giảng viên trong cách thức truyền đạt kiến thức cho sinh viên của mình, các thầy cô cũng đã nỗ lực để làm sao môn Giới được truyền tải dễ hiểu nhất có thể và lôi cuốn người học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Trao đổi với các giảng viên, chúng tôi nhận thấy các thầy cô đã vận dụng nhiều phương pháp khác nhau trong giảng dạy để làm bài giảng của mình cuốn hút hơn. Những phương pháp như: thuyết trình, phát vấn, ghi ý kiến lên bảng, thảo luận nhóm, làm bài tập nhóm... luôn được các thầy cô vận dụng thường xuyên và có sự đan xen, thay đổi trong quá trình giảng dạy. Thậm chí, có giảng viên còn giảng dạy bằng cách chiếu phim và cho sinh viên thảo luận chứng tỏ một sự đầu tư rất lớn vào bài giảng của mình. Sự đa dạng về phương pháp như vừa nêu trên một mặt giúp sinh viên không cảm thấy nhàm chán, mặt khác cũng tạo điều kiện cho họ tham gia nhiều hơn vào bài học và chủ động hơn đối với việc học của mình. Tuy nhiên, mức độ áp dụng và thay đổi các phương pháp khác nhau trong quá trình dạy ở mỗi giáo viên cũng khác nhau.

3. Thuận lợi và khó khăn trong việc học và dạy môn Giới

Nghiên cứu nhận thấy yếu tố thuận lợi khi học về Giới của sinh viên rất đa dạng. Các yếu tố khách quan tập trung vào hai mặt. Thứ nhất là năng lực và tâm huyết của người dạy: “Cô giáo giàu kinh nghiệm và có kiến thức chuyên sâu” (Phiếu 7); “Cô giáo nhiệt tình, giỏi” (Phiếu 6)... Những điều này giúp cho giảng viên có thể kích thích được mong muốn được hiểu biết, khám phá của sinh viên, giúp cho giờ học thêm sôi động, không bị nhàm chán. Thứ hai là nguồn tài liệu tham khảo, theo đánh giá của sinh viên thì rất dễ để tìm kiếm những tài liệu liên quan đến giới trên mạng internet và qua sách báo do đó, các em không cảm thấy mơ hồ về môn học. Các yếu tố chủ quan tập trung vào việc sinh viên có hứng thú với môn học và đã có sẵn một lượng kiến thức nhất định tích lũy trong những năm đầu học Đại học, nên khi tiếp cận với môn Giới thì cảm thấy dễ hiểu. “Tôi có hứng thú với môn học, có nền tảng kiến thức cơ bản phục vụ cho việc học” (Phiếu 16).

Tuy vậy, khi nói về khó khăn trong quá trình học, khá nhiều sinh viên cho rằng khó khăn của mình là không có nhiều tài liệu. Bên cạnh đó, thời lượng học quá ít cũng khiến sinh viên cảm thấy không thỏa mãn với môn học. “Nội dung nhiều nhưng số tiết trên lớp lại quá ít... cần có nhiều thời gian học sâu thêm nữa” (Phiếu 4). Ngoài ra, có ý kiến đánh giá về sự chênh lệch giữa lý thuyết và thực tiễn khiến các em bối rối trong khi học về giới: “Lý thuyết và thực tiễn khác nhau, sẽ phải mất một thời gian dài nữa các kiến thức giới mới đúng với thực tế, đặc biệt là về bình đẳng giới” (Phiếu 9). Nếu như có những sinh viên nhận thấy sự ham mê, thích thú và tích cực trong học tập là thuận lợi của mình thì đó cũng là lí do khiến nhiều sinh viên cảm thấy khó khăn khi học môn giới do bản thân chưa thực sự dành nhiều thời gian, chưa tích cực. Đặc biệt, rất nhiều ý kiến cho rằng khó khăn lớn của mình là “Bản thân còn nhiều định kiến” (Phiếu 1) hay khó khăn xuất phát từ chính giới tính của mình và của giảng viên: “Là phụ nữ do vậy khi nhìn nhận so sánh với nam giới không có sự công bằng” (Phiếu 13) hoặc là “Bản thân là nữ giới nên đôi khi có định kiến thiên về phụ nữ. Giáo viên là nữ nên cũng có hạn chế khi quá nhấn mạnh những khó khăn, bất công của phái nữ” (Phiếu 145). Thậm chí, có sinh viên còn bi quan khi nhận định: “Mong muốn có những giải pháp cải thiện tình trạng bất bình đẳng giới nhưng nhận thấy rằng khả năng cải thiện tình trạng này là rất khó khăn” (Phiếu 19); “Việc thực hành, nghiên cứu về giới không được đi thực tế, do vậy chưa biết ứng dụng vào thực tiễn ra sao” (Phiếu 80).

Qua những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy những thuận lợi và khó khăn của sinh viên trong quá trình tiếp cận Giới là rất đa dạng. Có thể nói các em có nhiều yếu tố thuận lợi thúc đẩy cho việc học được tiến triển tốt nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại rất nhiều khó khăn mà bản thân các em trải qua trong quá trình học. Dù là yếu tố khách quan hay chủ quan thì những khó khăn này cũng phần nào cản trở các em trong việc lĩnh hội kiến thức. Đặc biệt, nếu sinh viên không có niềm tin vào môn học của mình, cảm thấy mình học cũng vô ích vì không có ý nghĩa thực tiễn, không biết áp dụng như nào vào trong cuộc sống thì sẽ càng ảnh hưởng không tốt đến sự sẵn sàng học hỏi của các em.

Về phía giảng viên, đánh giá của họ về những thuận lợi khi dạy học được đề cập đến từ nhiều góc độ khác nhau: “Thuận lợi là Giới là ngành khoa học mà khi ra đời được sự quan tâm của các cấp, các ngành. Thực ra người Việt Nam biết về Giới từ rất lâu rồi. Hiện giờ các khoa Xã hội học ở các trường đều có học về Giới: Những trường như Học viện Báo chí và tuyên truyền, ĐH Công đoàn, ĐH Luật… đều có môn Giới dù giới còn rất trẻ. Khi đưa Giới vào giảng dạy sinh viên đón nhận ngay. Ngay khóa năm 1992, sinh viên nói rằng học về Giới thời kỳ đầu gây sửng sốt cho sinh viên, khiến họ khao khát tìm hiểu” (LTQ, ĐHKHXH&NV). Những thuận lợi đó còn đến từ thực tế hoạt động của giáo viên: “Thuận lợi đối với tôi là tôi có tham gia nhiều nghiên cứu về vấn đề này trong nhiều năm nên trong quá trình giảng dạy, tôi có nhiều ví dụ cụ thể và sâu sắc ở nhiều khía cạnh khác nhau, học viên cảm nhận được vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau” (TTVA, Học viện hành chính quốc gia HCM). Bên cạnh đó, giáo viên cũng gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình dạy học. Nếu như sinh viên nhận thấy có được giáo viên nhiệt tình, có năng lực là một trong những thuận lợi của mình thì đối với giáo viên, khó khăn lại xuất phát từ sinh viên khi không nắm bắt được nhu cầu của họ: “Khó khăn lớn nhất mà tôi nhận thấy đó là không thực sự hiểu được nhu cầu của sinh viên: Vì sao họ quan tâm hay học môn Giới? Có phải đó là nhu cầu xuát phát từ bản thân họ do họ yêu thích, muốn khám phá môn học này hay vì đó là môn học bắt buộc trong chương trình nên họ phải theo. Nếu học theo tinh thần như thế, rất có thể họ không tập trung nghe bài, cũng không phản hồi nên giáo viên không thể biết được bài giảng của mình được tiếp nhận như nào. Nói chung, khó khăn chính là không biết được động cơ của người học” (TTVA, Học viện hành chính quốc gia HCM). Hơn nữa, khả năng ngoại ngữ của sinh viên cũng là điều được bàn tới. Trên thực tế, tài liệu về giới có rất nhiều nhưng phần lớn bằng tiếng nước ngoài nhất là tiếng Anh, do vậy, nếu sinh viên không khá về ngoại ngữ sẽ rất khó khăn để tích lũy và cập nhật cho mình những kiến thức liên quan. Vì lẽ đó, có giáo viên phải đưa tài liệu yêu cầu sinh viên dịch để làm quen với việc đọc sách nước ngoài. Việc làm này là hoàn toàn đúng đắn và có ích cho sinh viên nhưng chỉ có thể giới hạn được trong một lượng nhỏ những sinh viên có vốn tiếng nước ngoài khá. Ngoài ra, dù giáo viên có ý thức về lợi ích của việc thay đổi những hoạt động trong giờ học nhưng thật không dễ dàng để họ có thể làm việc đó một cách thường xuyên. “Khó khăn lớn nhất là càng sử dụng nhiều hoạt động thì càng mất nhiều thời gian (trong khi thời lượng cho môn học chỉ giới hạn trong 45 tiết), khó khăn lớn thứ 2 là không có chi phí nào cho các loại văn phòng phẩm phục vụ cho các hoạt động. Do đó, có thể giáo viên phải tự chuẩn bị hoặc sinh viên phải tự bỏ quỹ lớp để mua. Điều này làm cho sinh viên không mấy hứng thú” (NTTM, Học viện Báo chí và tuyên truyền).

Kết luận

Thông qua những kết quả nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng mặc dù khoa học về Giới còn khá non trẻ ở Việt Nam nhưng khi đưa vào giảng dạy trong một số trường Đại học đã được các em sinh viên đón nhận nhiệt tình và đánh giá cao sự gắn bó của môn học về Giới trong tương quan với chuyên ngành mình theo học. Điều này cho thấy việc đưa Giới vào giảng dạy là điều hoàn toàn đúng đắn. Mặc dù còn tồn tại rất nhiều khó khăn trong việc dạy và học môn Giới nhưng chúng tôi nhận thấy các giáo viên khi đã giảng dạy đều vô cùng tâm huyết với môn học. Tuy nhiên, để khoa học về Giới có thể phát triển một cách bền vững thì hình thức tổ chức đào tạo nhỏ lẻ, cho một số ít sinh viên học các ngành khoa học xã hội như Luật, Tâm lý học, Xã hội học... có lẽ chưa thỏa đáng. Trên thế giới, Giới được đưa vào hầu hết các ngành học như chúng tôi đã nêu ở phần mở đầu. Và hiển nhiên, để có thể đi sâu vào mọi lĩnh vực như thế, điều tất yếu là cần mở ra một khoa chuyên biệt đào tạo về Giới. Thay cho lời kết, chúng tôi xin trích ở đây ý kiến của PGS.TS. LTQ (ĐHKHXH&NV) về việc cần phát triển khoa học về Giới theo một mức độ khác như sau: “Thực ra Giới xứng đáng là một khoa nhưng mình không đủ về lượng giáo viên trong khi nhu cầu thì lớn... Đội ngũ giáo viên quá mỏng và hiện nay mình chưa xin mã số ngành để mở thành một khoa riêng biệt”.

Tài liệu tham khảo:

  1. Trần thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng - Phụ nữ, Giới và Phát triển – NXB Phụ nữ 2000.

  2. Hội thảo khoa học ”Tăng cường hợp tác trong nước và quôc tế về lĩnh vực Giới và phát triển đô thị” (tháng 5/2004)

  3. Hội thảo khoa học ”Vấn đề Giới trong đào tạo Luật học ở trường ĐH Luật HN” (tháng 11/2006)


ThS. Bùi Thị Hồng Thái, Tạp chí Tâm lý học, số 4(121), 4- 2009...
VNSW xin giới thiệu bài viết "Quan điểm, mục tiêu của Đảng về xây dựng đội ngũ nữ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước" của TS. Nguyễn Bắc Son,  Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương.



1. Mở đầu

"Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp. Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp thêm nguyên khí". Đó là câu nói nổi tiếng cách đây 526 năm (1484- 2010) của vị Tiến sĩ triều Lê, Phụng trực đại phu, Hàn lâm viện thừa chỉ, Đông các đại học sĩ Thân Nhân Trung vâng mệnh vua Lê Thánh Tông soạn bài ký cho tấm bia Văn Miếu tại Quốc Tử giám đã khẳng định vai trò của nhân tài trong việc hưng thịnh đất nước.

Chuyển động của mỗi đất nước phụ thuộc lớn vào trí tuệ và bản lĩnh của tầng lớp trí thức. Để hướng tới một nền kinh tế phát triển, một xã hội dân chủ, văn minh và tích lũy được những giá trị tốt đẹp cho cuộc sống thì việc đào tạo, sử dụng nhân tài cho việc chấn hưng đất nước cần được coi là một trong những nhân tố tích cực nhất.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trí thức Việt Nam luôn sát cánh cùng giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và nhân dân lao động cả nước đoàn kết, phấn đấu, cống hiến tài năng và trí tuệ, góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc. Khẳng định đường lối chủ trương đúng đắn của Đảng, đánh giá cao sự cống hiến của đội ngũ trí thức, trong đó có đội ngũ trí thức nữ, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thảo luận và thông qua một nghị quyết quan trọng - Nghị quyết số 27 - NQ/TW "Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Những quan điểm đúng đắn của Đảng về đội ngũ trí thức, trong đó có trí thức nữ đã được khẳng định “Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững…có chính sách và kế hoạch cụ thể để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng trí thức trẻ, trí thức là những người đã có cống hiến trong hoạt động thực tiễn, trí thức người dân tộc thiểu số và trí thức nữ” [1].

Phụ nữ Việt Nam giữ một vai trò, vị trí quan trọng trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Giải phóng và phát triển toàn diện phụ nữ là một trong những mục tiêu của cách mạng Việt Nam, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển của đất nước. Bồi dưỡng lực lượng phụ nữ, phát huy sức mạnh, nâng cao tri thức và chăm lo sự phát triển mọi mặt của phụ nữ là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng trong mọi thời kỳ cách mạng. Đặc biệt trong giai đoạn cách mạng hiện nay, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ, trong đó có nữ trí thức là một yêu cầu quan trọng của sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, là một mục tiêu quan trọng của công cuộc CNH-HĐH đất nước.

2. Thực trạng đội ngũ trí thức và công tác xây dựng đội ngũ trí thức của Đảng và Nhà nước ta

Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử nhân loại, vai trò của trí thức rất lớn. C. Mác - Ph. Ăng-ghen, V.I. Lê-nin trên cơ sở tổng kết lịch sử xã hội loài người và thực tiễn đấu tranh cách mạng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã đánh giá cao vai trò, vị trí của tầng lớp trí thức trong cách mạng (XHCN). Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, giai cấp công nhân chỉ có thể hoàn thành sứ mạng lịch sử toàn thế giới của mình khi liên minh với các giai cấp và tầng lớp lao động khác mà trước hết là với giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và lãnh đạo họ tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng.

Thế giới hiện nay đang chuyển từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, đó là quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế chủ yếu dựa vào vốn và tài nguyên thiên nhiên sang nền kinh tế chủ yếu dựa vào tri thức con người. Nền kinh tế trong đó sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu của sự tăng trưởng, tạo ra của cải, việc làm trong tất cả các ngành kinh tế. Sự xuất hiện và phát triển của kinh tế tri thức là một bước nhảy vọt về chất của lực lượng sản xuất và nền văn minh nhân loại. Tỷ trọng của cải tri thức trong tài sản quốc gia của các nước cũng ngày càng gia tăng. Vai trò cốt lõi là tri thức và công nghệ trong mối quan hệ hữu cơ với đội ngũ trí thức ngày càng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc.

Trong xu thế phát triển của nhân loại nói chung và của nền kinh tế tri thức nói riêng, hiện nay lao động trí óc đang ngày càng chiếm ưu thế, lao động chân tay đang thu hẹp dần. Nhiều quá trình sản xuất ra của cải vật chất xã hội được tự động hóa, tin học hóa, đòi hỏi người sản xuất phải có trình độ tri thức, chuyên môn cao, làm việc theo phương thức sáng tạo. Do vậy, tầng lớp trí thức đang phát triển nhanh chóng và chắc chắn sẽ trở thành bộ phận dân cư lớn, không những về số lượng mà cả vai trò, sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến diễn tiến chính trị, kinh tế, xã hội. Đồng thời, họ sẽ là những người tạo ra phần lớn nhất của cải xã hội. Mặt khác, trong nền kinh tế tri thức, ranh giới của tầng lớp trí thức với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội cũng không còn tách biệt rõ ràng như trước đây. Đã xuất hiện những bộ phận của giai cấp công nhân, nông dân và của các tầng lớp khác được trí thức hóa, lao động theo những đặc điểm của lao động trí thức.

Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển. Trong hơn nửa thế kỷ qua, đội ngũ trí thức đã hình thành và phát triển thành một lực lượng lao động hùng hậu. Nói về trí thức, có nhiều khái niệm khác nhau. Tổng hợp từ nhiều khái niệm đó, Nghị Nghị quyết số 27 - NQ/TW "Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" khẳng định: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội” (1). Đội ngũ trí thức  không chỉ có trình độ học vấn, chuyên môn cao, mà còn là những người quan tâm và có chính kiến trước những vấn đề chính trị - xã hội của thời cuộc. Đặc trưng nổi bật nhất của khái niệm trí thức là lao động trí óc và có tính sáng tạo. Kiểu lao động trí óc và sáng tạo ấy đặt ra đòi hỏi cao về tính độc lập của người trí thức trong tư duy, vận dụng kiến thức và kinh nghiệm đã được tích lũy cũng như năng lực chuyên môn nghề nghiệp để tìm ra biện pháp tối ưu giải quyết công việc. Tầng lớp trí thức là bộ phận rất nhạy cảm, có uy tín lớn cũng như tầm ảnh hưởng rộng trong xã hội; là những người có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp nhận sớm nhất, nhiều nhất, nhanh nhất những thông tin xã hội.

Đội ngũ trí thức đã đóng góp tích cực vào xây dựng những luận cứ khoa học hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần làm sáng tỏ con đường phát triển của đất nước và giải đáp những vấn đề mới phát sinh trong sự nghiệp đổi mới; trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài; sáng tạo những công trình có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, nhiều sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh; từng bước nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của đất nước, vươn lên tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) đất nước, trí thức là lực lượng tiên phong, được coi là "rường cột của đất nước", là "nguyên khí của quốc gia"..., có những đóng góp to lớn làm rạng danh non sông, đất nước. Vì vậy, phát triển đội ngũ trí thức, nâng tầm trí tuệ của cả dân tộc lên tầm cao mới - tầm cao trí tuệ của thời đại là nhiệm vụ lớn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Sứ mệnh của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

Nhìn tổng thể, đội ngũ trí thức Việt Nam đã được phát triển lớn mạnh, có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng vì độc lập, tự do của Tổ quốc và công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Với chính sách giáo dục của Đảng, Nhà nước, nhiều con em nhân dân lao động đã được đào tạo trở thành những cán bộ khoa học - kỹ thuật, nhà giáo, văn nghệ sỹ... Trong hơn 20 năm thực hiện chính sách đổi mới, đội ngũ trí thức trẻ đã phát triển từ các nguồn đào tạo phong phú hơn, tiếp nhận được những tri thức, kinh nghiệm từ các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển ở các khu vực trên thế giới. Đây là bộ phận trí thức năng động, có khả năng cập nhật các vấn đề hiện đại về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, có khả năng lớn trong việc phát triển các mối quan hệ với các nước trong khu vực và thế giới, thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước.

Theo tài liệu chính thống, đến giữa năm 2007, Việt Nam có khoảng 2,6 triệu người có trình độ đại học trở lên (chiếm 4,5% lực lượng lao động), trong đó, có trên 18.000 Thạc sĩ, 16.000 Tiến sĩ và Tiến sĩ Khoa học, trên 6.000 Giáo sư, Phó Giáo sư. Ước tính tổng số trí thức, công chức, viên chức của cả nước hiện nay là khoảng 3,5 triệu người. Trí thức làm việc trong khu vực sự nghiệp chiếm 71%, khu vực hành chính chiếm gần 22% và khu vực kinh doanh 7%. Trí thức Việt Nam ở nước ngoài có khoảng 400.000 người, chiếm trên 10% số người Việt Nam đang ở nước ngoài [2].

Trí thức Việt Nam xuất thân từ nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội, nhất là từ công nhân và nông dân; phần lớn trưởng thành trong xã hội mới, được hình thành từ nhiều nguồn đào tạo ở trong và ngoài nước, với nhiều thế hệ nối tiếp nhau, trong đó có bộ phận trí thức người Việt Nam ở nước ngoài. Đội ngũ trí thức nước ta có tinh thần yêu nước, có lòng tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc, luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đây là một đặc điểm riêng của đội ngũ trí thức Việt Nam so với giới trí thức của nhiều nước đã trải qua giai đoạn phát triển chủ nghĩa tư bản. Đặc điểm đó đã tạo cho giới trí thức nước ta một ý thức gắn bó sâu sắc với nhân dân, thông cảm với người lao động, với hoàn đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu, mong muốn xây dựng đất nước trở thành một quốc gia giàu mạnh, một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, có thể sánh vai với các nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới. Từ thực tiễn lịch sử cũng có thể thấy, giới trí thức Việt Nam nhận thức rõ rằng: chỉ có sát vai cùng giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và nhân dân lao động nói chung mới có thể giải phóng cho họ, xóa được nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng và phát triển đất nước.

3. Quan điểm chỉ đạo, mục tiêu của Đảng xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

3.1. Quan điểm chỉ đạo

Đảng Cộng sản Việt Nam từ trước đến nay đều luôn nhấn mạnh quan điểm nhất quán là lấy "liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nòng cốt" của cách mạng. Điều này được thể hiện trong Chính cương, Điều lệ Đảng, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta và nhiều văn kiện khác. Quan điểm chỉ đạo đó thể hiện trong Nghị quyết số 27 - NQ/TW (khóa X).

- Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Đầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững.

- Xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị, trong đó trách nhiệm của Đảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định. Trí thức có vinh dự và bổn phận trước Tổ quốc và dân tộc, không ngừng phấn đấu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

- Thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của trí thức. Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến; có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã nhận thức rõ và đánh giá cao vai trò, vị trí của đội ngũ trí thức trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước. Ngay từ những ngày đầu của chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa, Người đã nói: "Những người trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng. Không có những người đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều". Trả lời các nhà báo nước ngoài về vai trò, vị trí của đội ngũ trí thức trong nhận thức, chính sách của Chính phủ cũng như trong thực tiễn cách mạng ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế. Chứng thực là trong cuộc kháng chiến cứu quốc này, những người trí thức Việt Nam đã chung một phần quan trọng. Một số thì trực tiếp tham gia vào công việc kháng chiến, hy sinh cực khổ, chen vai thích cánh với bộ đội nhân dân. Một số thì hăng hái hoạt động giúp đỡ ở ngoài" (3). Bản thân Hồ Chí Minh là một trí thức yêu nước đi làm cách mạng. Người đã hết sức trọng dụng tầng lớp trí thức ưu tú của dân tộc, tạo điều kiện cho họ được cống hiến, được thể hiện đầy đủ nhất tài năng, vai trò và trách nhiệm của mình trong sự nghiệp chung của toàn dân. Hàng loạt trí thức trẻ - những học sinh, sinh viên yêu nước, giác ngộ cách mạng đã có mặt trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo trung kiên, giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy Đảng, Nhà nước trong quá trình cách mạng giải phóng dân tộc như: Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Đức Cảnh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Tố Hữu... Nhiều trí thức trưởng thành trong nước hay từ nước ngoài trở về như: Hồ Đắc Di, Đặng Văn Ngữ, Tạ Quang Bửu, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Tấn Phát, Nghiêm Xuân Yêm, Trần Đại Nghĩa, Lương Định Của, Tôn Thất Tùng, Phạm Huy Thông, Trần Duy Hưng, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đình Thi... đã đi theo cách mạng ngay từ những ngày đầu độc lập, sẵn sàng chịu đựng những thử thách khó khăn, gian khổ, hy sinh trong kháng chiến chống thực dân, đế quốc, đóng góp tài năng, trí tuệ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, dành độc lập, tự do cho đất nước. Ngay cả trong Chính phủ lâm thời năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã mời các nhân sĩ trí thức không phải là đảng viên Đảng Cộng sản tham gia và giữ những trọng trách như: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại...[4]

Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để đội ngũ trí thức phát triển nhanh về số lượng và nâng lên về chất lượng, phát huy vai trò trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, đặc biệt là các nghị quyết chuyên đề về giáo dục - đào tạo, khoa học v- công nghệ, văn hoá -văn nghệ…để tạo động lực thúc đẩy sự sáng tạo, cống hiến của đội ngũ trí thức. Nhà nước đã thực hiện các chính sách xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống đào tạo, nghiên cứu; đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hoá - văn nghệ; các chính sách sử dụng và tạo môi trường phát huy vai trò của trí thức; chính sách đãi ngộ, tôn vinh trí thức, lập các giải thưởng quốc gia, phong tặng các chức danh khoa học, các danh hiệu cao quý; thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài…

3.2. Mục tiêu

Việt Nam đang phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Mục tiêu của CNH-HĐH là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Nghị quyết của Đại hội VIII của Đảng (1996) dự đoán đến năm 2020, GDP tăng từ 8 - 10 lần so với năm 1990. Khoa học tự nhiên và khoa học công nghệ có khả năng nắm bắt và vận dụng được nhiều thành tựu mới nhất của cách mạng khoa học và công nghệ. Khoa học xã hội và nhân văn có khả năng làm cơ sở cho việc xây dựng hình thái ý thức xã hội mới, thể hiện dưới những hình thức chính trị, tư tưởng, ý thức pháp quyền, đạo đức, khoa học, nghệ thuật. Sự phát triển của khoa học đủ sức cung cấp luận cứ cho việc hoạch định các chính sách, chiến lược và quy hoạch phát triển. Từ nay đến năm 2020, cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển ở trình độ ngày càng cao, lực lượng sản xuất tăng nhanh, đồng thời, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới, quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội; cuộc cạnh tranh kinh tế, thương mại, khoa học, kỹ thuật, công nghệ diễn ra gay gắt, đòi hỏi phải đổ vào đấy rất nhiều chất xám của giới trí thức.

Mục tiêu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 đòi hỏi phải lựa chọn con đường phát triển rút ngắn, phát huy đến mức cao nhất mọi nguồn lực, tiềm năng trí tuệ của dân tộc, đặc biệt là năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức. Nghị quyết số 27 - NQ/TW (khóa X) xác định rõ mục tiêu “Đến năm 2020, xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, đạt chất lượng cao, số lượng và cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ của trí thức các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới. Gắn bó vững chắc giữa Đảng và Nhà nước với trí thức, giữa trí thức với Đảng và Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công - nông - trí. Trong những năm trước mắt, hoàn thiện các cơ chế, chính sách đã ban hành, xây dựng cơ chế, chính sách mới nhằm phát huy có hiệu quả tiềm năng của đội ngũ trí thức; xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ trí thức đến năm 2020”.

4. Quan điểm của Đảng về đội ngũ cán bộ nữ, trong đó có nữ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, phụ nữ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Ngay từ những buổi đầu lập nước, khi gặp nạn ngoại bang xâm lược, bà Trưng, bà Triệu đã dấy binh khởi nghĩa đánh đuổi quân thù. Đến thế kỷ XX, qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, lịch sử ghi nhận hàng vạn tấm gương phụ nữ không ngại gian khổ, không tiếc máu xương, sẵn sàng chiến đấu, lao động, hy sinh, cống hiến không chỉ cuộc đời mình mà cả con em cho độc lập tự do của Tổ quốc. Phụ nữ không chỉ chiến đấu anh hùng mà đã lao động cần cù, gian khó để vượt lên cảnh đói nghèo và lạc hậu, góp phần xây dựng đất nước ngày càng to đẹp và đàng hoàng hơn như mong ước của Bác Hồ kính yêu. Giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng để phát huy khả năng to lớn của phụ nữ luôn được coi là nhiệm vụ lớn lao, một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh - người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho nhân dân, đất nước luôn quan đánh giá cao và quan tâm đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ “Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ...Muốn có nhiều sức lao động để sản xuất thì phải giải phóng sức lao động phụ nữ. Nói phụ nữ là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng CNXH chỉ một nửa” (5).

Thật vậy, phụ nữ là một nửa của một thể thống nhất không thể tách rời của xã hội. Khó có thể đưa một đất nước nào đó thoát khỏi lạc hậu trở nên thịnh vượng mà ở đó lại xem nhẹ phụ nữ. Cho đến nay, vai trò của người phụ nữ ngày càng được đánh giá một cách đầy đủ hơn, đặc biệt là thời kỳ CNH-HĐH, phát triển kinh tế thị trường, hội nhập nền kinh tế trí thức và hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt ngày nay, khi giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ đang thực sự trở thành động lực quan trọng của sự phát triển thì việc đầu tư để nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ, phát triển trí tuệ cho con người, trong đó có phụ nữ là sự đầu tư có hiệu quả thiết thực, lâu dài và có tầm quan trọng chiến lược đối với sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Trong quá trình phát triển, nhân lực trí tuệ sẽ giữ một vai trò ngày càng quyết định. Phụ nữ chiếm hơn một nửa dân số. Nếu phụ nữ không được nâng cao tri thức như nam giới để có một tỉ lệ tương ứng ở các trình độ khác nhau là gây nên sự lãng phí nhân lực trí tuệ của toàn xã hội.

Ngoài những đặc điểm chung của trí thức, nữ trí thức Việt Nam có những đặc thù riêng là xuất thân chủ yếu từ công nhân, nông dân và trí thức. Theo những số liệu mới nhất, tỷ lệ nữ trí thức xuất thân từ tầng lớp trí thức càng cao hơn so với những tầng lớp khác, chủ yếu do quan niệm tiến bộ về nữ giới ở tầng lớp này.

Quan điểm, đường lối của Đảng đã đảm bảo và phát huy vị trí và vai trò tham gia của phụ nữ vào mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, bởi các quan điểm và đường lối này là những tuyên bố chính thức làm cơ sở đảm bảo hành lang pháp lý cho sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động của đời sống xã hội. Hơn nữa, các quan điểm và đường lối của Đảng được coi là một công cụ hữu hiệu làm thay đổi nhận thức xã hội về vai trò và khả năng của phụ nữ trong việc tham gia các hoạt động xã hội. Các quan điểm đó đều khẳng định một cách xuyên suốt và nhất quán: phụ nữ có quyền bình đẳng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc lãnh đạo” [5].

Ngay từ năm 1930, khi mới ra đời, Đảng đã đề cao tư tưởng “Nam nữ bình quyền” và coi việc thực hiện tư tưởng đó là một trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của cách mạng Việt Nam. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946 khẳng định: “Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9, Hiến pháp 1946). Hiến pháp 1959 đã cụ thể hoá thêm một bước, theo đó “Phụ nữ  nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền bình đẳng với nam giới về mọi mặt sinh hoạt, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá và gia đình.” (Điều 14, Hiến pháp năm 1959). Hiến pháp năm 1992, điều 63 nhấn mạnh rõ hơn rằng Phụ nữ  có quyền bình đẳng, và quyền đó được pháp luật công nhận và bảo vệ: “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá và gia đình. Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ”. Sự tôn trọng quyền bình đẳng tham gia và sự bảo vệ quyền đó đã được cụ thể hoá thông qua các điều luật liên quan đến phụ nữ trong một số bộ luật cơ bản như Luật hôn nhân và gia đình, Luật dân sự, Luật lao động, Luật giáo dục.

Vị trí và vai trò của phụ nữ được đặt trong mối quan hệ biện chứng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đảng ta, một mặt đánh giá cao khả năng và sự cần thiết tham gia của phụ nữ, coi đó không chỉ là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của cách mạng, sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, mà đó còn là điều kiện để thông qua đó phụ nữ cải thiện được vị trí xã hội của mình. Việc thực hiện bình đẳng giới là một công việc khó khăn, lâu dài và phức tạp. Hồ Chí Minh đã nói: “ Trọng nam khinh nữ là thói quen mấy nghìn năm để lại vì nó đã ăn sâu trong đầu óc mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội. Nó đã trở thành một vấn đề tâm lý xã hội. Bởi vậy, cuộc đấu tranh chống phân biệt đối xử với phụ nữ là cuộc đấu tranh tư tưởng lâu dài, khó thực hiện” [5].

Sự nghiệp giải phóng phụ nữ, tạo ra điều kiện để phát huy tiềm năng của phụ nữ, từ đó nâng cao vị thế của phụ nữ  không thể coi chỉ là trách nhiệm của bản thân họ, mà là của toàn xã hội, của Đảng, của Nhà nước. Nghị quyết 153 NQ/TW (10/1/1967) của Ban Bí thư khẳng định trách nhiệm đối với việc phát huy vai trò phụ nữ là sự nghiệp của Đảng, là trách nhiệm của xã hội “Lực lượng phụ nữ, trong đó có đội ngũ xung kích là lực lượng cán bộ phụ nữ ở tất cả các lĩnh vực, phải phát huy vai trò chủ động của mình...Sự nghiệp giải phóng phụ nữ là trách nhiệm chung của toàn Đảng, của Nhà nước, của xã hội.”

Chỉ thi 44 CT/TW (7-6-1984) đã nhấn mạnh rằng đội ngũ cán bộ nữ đã được đào tạo, bồi dưỡng ngày càng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, vai trò quan trọng của đội ngũ cán bộ nữ trong mọi lĩnh vực hoạt động. Chỉ thị đã yêu cầu trong công tác quy hoach đội ngũ cán bộ cần tính đến các cán bộ nữ. Chỉ thị nêu rõ: “Tiếp tục thực hiện nam nữ bình đẳng, nâng cao vai trò cán bộ nữ trong quản lí kinh tế, quản lí nhà nước... Vấn đề cán bộ nữ phải đặt trong việc xây dựng và thực hiện chủ trương quy hoạch cán bộ nói chung của Đảng và nhà nước”

Các quan điểm, đường lối về phụ nữ của Đảng ngày càng được cụ thể hoá hơn nữa trong thời kỳ đổi mới. Chủ trương của Ðảng về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong các nghị quyết và chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác cán bộ nữ, trong đó có công tác trí thức nữ. Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cụ thể nhằm tạo điều kiện để phụ nữ phát triển và thúc đẩy bình đẳng giới. Sự nghiệp giải phóng phụ nữ, tạo ra điều kiện để phát huy tiềm năng của phụ nữ, từ đó nâng cao vị thế của phụ nữ  không thể coi chỉ là trách nhiệm của bản thân họ, mà là của toàn xã hội, của Đảng. Các quan điểm này đã từng bước được cụ thể hoá thành các chiến lược, quy hoạch gắn liền với những chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ, trong đó có đội ngũ cán bộ nữ và nữ trí thức.

Sự tăng cường mối quan tâm và cụ thể hoá các quan điểm đối với phụ nữ nói chung và phụ nữ trí thức nói riêng được thể hiện rõ nét ở các nghị quyết của Đảng.

Quan điểm chỉ đạo của Đại hội Đảng lần thứ VI đã đánh giá cao vai trò của phụ nữ nói chung và nữ tri thức nói riêng trong sự nghiệp đổi mới “Phải xem giải phóng phụ nữ là một mục tiêu và nội dung quan trọng của công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta...Xây dựng người phụ nữ Việt Nam có sức khỏe, có kiến thức, năng động, sáng tạo, biết làm giàu chính đáng, quan tâm đến lợi ích xã hội và cộng đồng...” [6]

Ngày 12-7-1993, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 04/NQTW về “Đổi mới công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới” khẳng định vai trò và vị trí của người phụ nữ với 3 quan điểm, trong đó nhấn mạnh một trong những mục tiêu giải phóng phụ nữ để thực hiện tốt nam nữ bình đẳng là xây dựng người phụ nữ “có sức khỏe, kiến thức, năng động, sáng tạo...”. Nghị quyết đã “Đặt vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nữ thành nhiệm vụ có tính chiến lược trong toàn bộ công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước. Trên cơ sở quy hoạch, có kế hoạch tạo nguồn, đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ, tạo điều kiện để cán bộ nữ cống hiến và trưởng thànht”. Nghị quyết TW đã nhấn mạnh đến cả quan điểm nhìn nhận, đánh giá, đối xử trong sử dụng, đề bạt cán bộ nữ lẫn đề ra các giải pháp: quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng, tạo điều kiện để phát huy tiềm năng của cán bộ nữ.

Sau Nghị quyết 04/NQTW, ngày 16/5/1999, Ban Bí thư ban hành tiếp Chỉ thị 37/CT-TW “Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”, nêu rõ một số quy định, biện pháp cụ thể, đó là: Xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ nữ, tăng cường tỷ lệ nữ tham gia quản lý, lãnh đạo và khuyến khích tiềm năng tham gia của phụ nữ, đặc biệt là đội ngũ trí thức, nữ làm khoa học. Những ngành đông nữ và những ngành mà chức năng nhiệm vụ có liên quan đến vấn đề nữ phải có tỉ lệ nữ cán bộ tương xứng, phải có cán bộ nữ giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt các cấp. Những nữ cán bộ khoa học có tài, những nữ cán bộ quản lý giỏi cần dược khuyến khích sử dụng, khi cần thiết có thể nghỉ hưu ở tuổi 60 như nam giới.

Nghị quyết số 11-NQ/TW về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước thể hiện sự quan tâm lãnh đạo của Ðảng với công tác phụ nữ và thực hiện mục tiêu bình đẳng giới. Nghị quyết xác định những mục tiêu quan trọng về công tác phụ nữ nói chung, trong đó có công tác nữ: Phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp CNH-HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.

Công tác phụ nữ phải sát hợp với từng đối tượng, vùng, miền, phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tần lớp phụ nữ, góp phần tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để phát triển đất nước; đồng thời phải chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng để phụ nữ có điều kiện thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người.

Xây dựng, phát triển vững chắc đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với vai trò to lớn của phụ nữ là yêu cầu khách quan, là nội dung quan trọng trong chiến lược công tác cán bộ của Ðảng.

Công tác phụ nữ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từng gia đình. Trong đó, hạt nhân lãnh đạo là các cấp ủy đảng, trách nhiệm trực tiếp và chủ yếu là cơ quan quản lý nhà nước các cấp, vai trò chủ thể là phụ nữ mà nòng cốt là các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam [7].

Từ quan điểm trên, Nghị quyết đặt ra mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế; có việc làm, được cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; đóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia đình. Phấn đấu để nước ta là một trong các quốc gia có thành tựu bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực.

Đường lối của Đảng về cán bộ nữ và nữ trí thức được thể chế hóa bằng các văn bản pháp quy của Nhà nước. Đó là Quyết định 82/Ttg của Thủ tướng Chính phủ ngày 10-10-1997 “Đưa quan điểm bình đẳng giới vào các lĩnh vực hoạch định chính sách phát triển kinh tế, các chương trình quốc gia của các ngành, các cấp”; QĐ 82/Ttg của Thủ tướng Chính phủ, “Uỷ ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ” đã được thành lập ở trung ương và các cấp tỉnh/thành, huyện thị...; thành lập ở các bộ/ngành đến các đơn vị cơ sở. Công tác đảm bảo bình đẳng giới, chăm lo đến sự phát triển của phụ nữ không còn là chuyện riêng của Hội phụ nữ mà là của Đảng, Chính phủ, các cấp, các ngành: Quyết định 19/2002/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21/1/2002 về Phê duyệt Chiến lược quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến 2010, đã nêu rõ: “Mục tiêu 4: Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của phụ nữ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội để tăng số phụ nữ được giới thiệu và bầu tham gia lãnh đạo các cấp, các ngành”. Các biện pháp gồm: Quy hoạch đội ngũ cán bộ nữ, hoàn thiện hệ thống chính sách đối với cán bộ nữ; thực hiện lồng ghép giới trong chính sách phát triển nhân lực. Ngày 11/10/2002, Hội LHPNVN đã trình được Thủ tướng Chính phủ đồng ý cho Hội thành lập Quỹ “Giải thưởng Phụ nữ Việt Nam” với các nguồn lực do Hội vận động từ các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước. Luật Bình Đẳng Giới Quốc hội Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá XI, Kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 21/11/2006 có ghi “Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho lao động nữ” (Điều 13. Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động), “Nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ” (Điều 14. Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo) và các hành vi vi phạm pháp luật về bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ “cản trở nam, nữ tham gia hoạt động khoa học, công nghệ; từ chối việc tham gia của một giới trong các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ”...

Trong những năm vừa qua, trên cơ sở thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, công tác cán bộ nữ đã có những kết quả đáng kể. Theo đánh giá tình hình giới "Việt Nam là một trong những nước dẫn đầu thế giới về tỷ lệ nữ tham gia các hoạt động kinh tế và dẫn đầu khu vực châu á - Thái Bình Dương về tỷ lệ nữ trong Quốc hội" [8]. Đại biểu nữ trong Quốc hội (khóa XII) là 33,1% cao nhất ở châu Á và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao nhất thế giới. Số phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp trên 20%. Ở những lĩnh vực khác như ngành giáo dục đào tạo nữ chiếm tỷ lệ cao 70%. Tỷ lệ cán bộ nữ nhiệm kỳ hiện tại trong các cấp ủy tăng so với trước: trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX có 8,6%; khóa X: 8,12% (chính thức), 14,28% (dự khuyết); ban chấp hành tỉnh/thành ủy nhiệm kỳ 2001 - 2005: 11,32%; nhiệm kỳ 2005 - 2010: 11,75%; Ban Chấp hành quận/huyện nhiệm kỳ 2001 - 2005: 12,89%; nhiệm kỳ 2005 - 2010: 14,74%; Ban chấp hành xã/phường: nhiệm kỳ 2001 - 2005: 11,88%; nhiệm kỳ 2005 - 2010: 15,08%. Ở cấp Trung ương, cả 3 khóa đều có cán bộ nữ tham gia lãnh đạo cấp cao của Đảng: khóa VIII có nữ ủy viên Bộ Chính trị; khóa VII, IX, X có nữ tham gia Ban Bí thư Trung ương Đảng. Cán bộ nữ giữ cương vị chủ nhiệm, phó chủ nhiệm các ủy ban của Quốc hội chiếm tỷ lệ 25%. Thành tựu này đã đưa Việt Nam lên vị trí thứ nhất châu Á và thứ hai khu vực châu Á - Thái Bình Dương về tỷ lệ nữ tham gia Quốc hội. Tỷ lệ phụ nữ là đại biểu hội đồng nhân dân các cấp cũng tăng dần. So sánh giữa nhiệm kỳ 1999 - 2004 và nhiệm kỳ 2004 - 2009: cấp tỉnh/thành tăng từ 22,33% lên 23,83%; cấp quận/huyện tăng từ 20,12% lên 22,94%, và cấp xã/phường từ 16,56% lên 20,10%.

Trong lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam, người phụ nữ đã có những đóng góp cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử xã hội Việt Nam đã chứng minh, yếu tố quyết định vị thế xã hội và gia đình của người phụ nữ Việt Nam chính là vai trò quan trọng của họ với sự đóng góp thực sự to lớn cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước, người phụ nữ Việt Nam từ thế hệ này sang thế hệ khác, đã nối tiếp nhau, sánh vai cùng nam giới trong việc chống thiên tai, địch họa, trong xây dựng tổ ấm gia đình hạnh phúc, góp phần xây dựng và củng cố đất nước, tạo dựng tình tương thân, tương ái trong cộng đồng xã hội.

Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, lượng nữ chiếm một tỷ lệ đáng kể 42,2%. Nhiều nữ trí thức đã được Đảng và Nhà nước trao cho những giải thưởng cao quý, nhiều nhà khoa học nữ được nhà nước tôn vinh là anh hùng lao động, cấp bằng lao động sáng tạo, các giải thưởng trong và ngoài nước. Giải thưởng Kovalevskaia được trao hàng năm là một minh chứng cho việc tôn vinh nữ trí thức Việt Nam. Kể từ khi thành lập đến nay (1985), Ủy ban Giải thưởng Kovalevskaia Việt Nam đã xét, chọn và trao giải thưởng cho 30 cá nhân và 14 tập thể các nhà khoa học nữ xuất sắc, tiêu biểu nhất trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. Đó là tập thể nữ cán bộ nghiên cứu Viện Dinh dưỡng, đứng đầu là Viện trưởng PGS.TS Lê Thị Hợp (Bộ Y tế) trong suốt 28 năm liền đã có những cống hiến không nhỏ trong việc chăm sóc sức khoẻ, đời sống của nhân dân, cống hiến cho sự nghiệp dinh dưỡng nước nhà. Tập thể cán bộ khoa học nữ Phòng Polyme, Viện Hóa học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam với Thuốc kem Pokysan chữa trị bỏng. Tập thể cán bộ nữ công ty cổ phần Traphaco xây dựng quy trình sản xuất dược liệu sạch và chế biến sạch để bào chế một số chế phẩm chất lượng cao. Đại tá, PGS. TS Nguyễn Thị Thu Hà, Bệnh viện T.Ư Quân đội 108 đã Ghép tế bào máu ngoại vi tự thân. PGS. TS, Trần Thị Luyến Phó hiệu trưởng ĐH Thủy Sản Nha Trang với quy trình công nghệ sản xuất Chitozan từ vỏ ghẹ. GS.TS.Nhà giáo ưu tú Đặng Kim Chi - Nguyên Phó Viện trưởng, Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội - một chuyên gia hàng đầu về môi trường, đã có 37 năm liên tục tham gia giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý; có nhiều đóng góp trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đào tạo; là một trong những thành viên đầu tiên góp phần gầy dựng nên Viện Khoa học và Công nghệ môi trường…Đây là một chương trình có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động của Hội LHPN Việt Nam và phong trào phụ nữ nhằm tôn vinh những tập thể và cá nhân các nhà khoa học nữ đã có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học vào thực tiễn cuộc sống, đem lại những lợi ích đáng kể trên các lĩnh vực kinh tế -xã hội, khẳng định vai trò to lớn của đội ngũ nữ trí thức trong sự phát triển đi lên của đất nước, đồng thời là diễn đàn trao đổi về những cơ hội, những thách thức đối với nữ trí thức trong quá trình phấn đấu đạt được những thành tựu khoa học, qua đó đề xuất với Đảng, Nhà nước những chính sách và cơ chế nhằm tạo điều kiện cho nữ trí thức phát huy tiềm năng, đóng góp nhiều hơn nữa cho công cuộc CNH-HĐH đất nước.

Chủ tịch Nguyễn Minh Triết khẳng định trong buổi tiếp các trưởng đoàn dự cuộc họp Mạng lưới lãnh đạo nữ lần thứ 11 (WLN) của diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) tháng 9/2006 tại Hà Nội: “Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhận thức rõ về vai trò của phụ nữ trong phát triển và hội nhập quốc tế. Ở Việt Nam, vai trò của phụ nữ rất quan trọng. Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, phụ nữ tham gia rất tích cực trong nhiều hoạt động. Trong thời kỳ hòa bình và xây dựng đất nước, phụ nữ giữ cương vị lãnh đạo ở mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật... Vai trò của phụ nữ hoàn toàn xứng đáng với tám chữ vàng mà Ðảng, Nhà nước và nhân dân dành tặng: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang".

Là một tổ chức chính trị - xã hội với chức năng đại diện cho quyền bình đẳng dân chủ, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ, tham gia quản lý Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, Đảng đoàn Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam luôn chủ động trong công tác tham mưu, tổ chức triển khai, thực hiện kịp thời các chủ trương của Đảng, góp phần làm chuyển biến nhận thức và hành động về công tác cán bộ nữ. Hội tham mưu xây dựng dự thảo Nghị quyết về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác vận động phụ nữ và cán bộ nữ thời kỳ CNH-HĐH đất nước", chủ động phối hợp với các tỉnh, thành ủy chuẩn bị nhân sự Đại hội Đảng bộ các cấp, đề xuất những kiến nghị giúp các cấp ủy tăng cường cán bộ nữ tham gia cấp ủy nhằm bảo đảm tỷ lệ 15%, như tinh thần Chỉ thị số 46 của Bộ Chính trị…

Với sự quan tâm của Đảng, sự tham mưu tích cực của Đảng đoàn Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy ban quốc gia Vì sự tiến bộ phụ nữ Việt Nam, đội ngũ cán bộ nữ trong những năm qua đã vươn lên, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức không ngừng trưởng thành, từng bước đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới. Nhiều cán bộ nữ được giao giữ những cương vị lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể; nhiều chị trở thành những nhà khoa học, văn nghệ sĩ tài năng, những cán bộ quản lý các doanh nghiệp thành đạt. Trong thử thách của nền kinh tế thị trường và sự nghiệp CNH-HĐH, phần lớn cán bộ nữ được đào tạo cơ bản, có chuyên môn nghiệp vụ; nhạy bén, năng động, sáng tạo; có trách nhiệm cao trong công tác và tinh tế trong ứng xử; giữ được lối sống lành mạnh, có phẩm chất tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tôn trọng kỷ luật, tuân thủ pháp luật, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nhiều cán bộ là những tấm gương lao động sáng tạo tiêu biểu cho phụ nữ Việt Nam. Đó là kết quả quá trình đào tạo, bồi dưỡng, giúp đỡ và chăm lo của các cấp ủy, sự phấn đấu của chính bản thân mỗi cán bộ nữ, thể hiện sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền các cấp trong nhận thức và hành động nhằm phát huy vị trí, vai trò, của đội ngũ cán bộ nữ.

5. Giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức nữ ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong giai đoạn mới:

1 - Hoàn thiện môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động của trí thức, trong đó chú trọng việc thể chế hóa các chủ trương, chính sách xã hội nhằm xây dựng một môi trường thực sự dân chủ, tôn trọng và bảo vệ các điều kiện lao động sáng tạo, các chế độ đãi ngộ thích đáng đối với trí thức. Có chính sách và cơ chế để tạo điều kiện phát huy năng lực chuyên môn, khoa học của các chuyên gia, các nhà khoa học và công nghệ trình độ cao, những tài năng lớn trong các lĩnh vực văn hóa, văn học, nghệ thuật... Nhà nước sẽ tiếp tục đầu tư nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, kỹ thuật, xây dựng những khu công nghệ, các trường đại học trọng điểm, các cơ sở phục vụ nghiên cứu và thực nghiệm, cũng như mở rộng hợp tác quốc tế, mở ra nhiều khả năng cho đội ngũ trí thức học tập, nâng cao trình độ và cống hiến.

2 - Xây dựng chính sách trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức, trong đó quy định rõ trách nhiệm và trao quyền tự chủ cho từng cấp, từng ngành, từng vị trí cán bộ lãnh đạo, quản lý trong việc sử dụng, bổ nhiệm và thực thi các chính sách đãi ngộ của Nhà nước với trí thức, đặc biệt là đối với cán bộ đầu ngành, những người có trình độ chuyên môn - kỹ thuật cao. Có cơ chế, chính sách để động viên và sử dụng có hiệu quả những trí thức có sức khỏe, có trình độ, năng lực chuyên môn tốt nhưng đã hết tuổi lao động. Cùng với chế độ ưu đãi về lương, điều kiện làm việc cho trí thức trong nước, Nhà nước xây dựng chính sách để thu hút các trí thức Việt kiều tham gia công cuộc xây dựng, phát triển đất nước.

3 - Tạo chuyển biến căn bản trong đào tạo, bồi dưỡng trí thức, bao gồm cải cách giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo đại học và sau đại học; đổi mới cơ chế quản lý, vận hành các trường đại học, các viện nghiên cứu; thực hiện tốt việc đưa sinh viên có triển vọng đi đào tạo ở nước ngoài; bồi dưỡng đội ngũ trí thức trẻ và mở ra nhiều hình thức, huy động các nguồn lực xã hội tham gia bồi dưỡng, đào tạo lại để đội ngũ trí thức đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn của công cuộc CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.

4 - Củng cố và phát triển các hội trí thức nhằm nâng cao vai trò của các tổ chức này trong việc tập hợp, đoàn kết, góp phần phát huy năng lực chuyên môn, khoa học, nâng cao và cập nhật tri thức, giáo dục lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm công dân của đội ngũ trí thức. Tạo điều kiện và cơ chế để các hội trí thức thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, tham gia tích cực vào quá trình hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước.

5 - Nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo của Đảng đối với trí thức, trước hết là nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền các cấp về vai trò, vị trí của trí thức cũng như của công tác trí thức trong sự nghiệp CNH-HĐH. Làm tốt công tác tư tưởng để, một mặt, làm cho toàn xã hội mà trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên hiểu đúng về vai trò của trí thức; mặt khác, nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của đội ngũ trí thức đối với đất nước, với chế độ. Cán bộ, đảng viên, các cơ quan, tổ chức của Đảng có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đánh giá, uốn nắn kịp thời những sai sót, hạn chế trong việc đề ra và thực hiện các chính sách, chế độ đối với trí thức, đồng thời xây dựng và thực hiện cơ chế bảo đảm quyền và trách nhiệm của đội ngũ trí thức trong góp ý kiến xây dựng, phản biện các chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội. Quán triệt sâu sắc các quan điểm, mục tiêu công tác phụ nữ trong tình hình mới nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị-xã hội, tạo bước chuyển biến rõ rệt về hiệu quả công tác phụ nữ ở từng ngành, địa phương, đơn vị.  Các cấp ủy đảng có trách nhiệm lãnh đạo xây dựng quy hoạch cán bộ nữ trong quy hoạch tổng thể về cán bộ của Ðảng ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Ðối với cán bộ nữ, đồng thời với việc xây dựng quy hoạch, phải chăm lo đào tạo, bồi dưỡng để chủ động về nhân sự; đề bạt, bổ nhiệm cần bảo đảm tiêu chuẩn của từng chức danh, có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ, phát huy được thế mạnh, ưu điểm của cán bộ nữ. Thực hiện nguyên tắc bình đẳng giữa nam và nữ về độ tuổi trong quy hoạch, đào tạo, đề bạt và bổ nhiệm.

6- Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH-HĐH trong việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí sử dụng cán bộ nữ;

Xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo cán bộ nữ theo từng lĩnh vực , gắn với quy hoạch. Cần bảo đảm tỷ lệ nữ tham gia gia các khóa đào tạo tại các trường lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước từ 30% trở lên. Thực hiện cử tuyển đào tạo cán bộ nữ trong các dân tộc thiểu số, tôn giáo và trong các lĩnh vực có tỷ lệ cán bộ nữ quá thấp. Phổ cập tin học cho cán bộ nữ các cấp. Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40%. Các cơ quan, đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Ðảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới.

7- Chính sách phát triển đội ngũ cán bộ nữ: Xây dựng, sửa đổi, bổ sung và tổ chức thực hiện tốt các chính sách nhằm phát triển cán bộ nữ trong nghiên cứu khoa học, trong lãnh đạo, quản lý, đặc biệt quan tâm cán bộ nữ là trí thức; Công tác tạo nguồn cán bộ nữ cần được đặt trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của quốc gia, ưu tiên tuyển dụng cán bộ nữ, lao động nữ có trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học. Chăm lo bồi dưỡng, phát triển tài năng là nữ.

8- Xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt hệ thống luật pháp, chính sách về bình đẳng giới, tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ: Triển khai thực hiện tốt Luật Bình đẳng giới; ban hành một số chính sách đặc thù nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển của phụ nữ (Chính sách hỗ trợ phụ nữ trong đào tạo, bồi dưỡng, tiếp cận thông tin, ứng dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật, công nghệ mới, có các giải pháp cụ thể để tăng nhanh tỷ lệ phụ nữ được đào tạo trung cấp nghề, cao đẳng nghề, đại học, sau đại học).

9 - Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy ban Quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam phấn đấu làm tốt vai trò nòng cốt tham mưu và thực hiện các giải pháp cần thiết để nâng cao nhận thức cho phụ nữ về bình đẳng giới, vượt khó vươn lên để không ngừng tiến bộ, đóng góp ngày càng nhiều cho gia đình, xã hội.

Những mục tiêu, quan điểm trên là cơ sở quan trọng, cần thiết, đề ra hệ thống đồng bộ những nhiệm vụ, giải pháp trong công tác trí thức của Đảng nhằm xây dựng, phát triển một đội ngũ trí thức Việt Nam nói chung, trong đó có nữ trí thức nói riêng hiện đại ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Việc quán triệt và triển khai thực hiện tốt những nhiệm vụ, giải pháp đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn xã hội và của chính những người trí thức. Đó cũng là một trong những điều kiện bảo đảm cho sự thành công của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, hội nhập quốc tế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Nghị quyết số 27 - NQ/TW Ban Chấp hành Trung ương khoá X "Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước".

2. Hà Thị Khiết - Công tác cán bộ nữ trong tình hình mới- Tạp chí Cộng sản.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 5, tr 156.

4. Trường Lưu - Xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.

5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t 6, tr 432.

6. Phụ nữ Việt Nam bước vào thế kỷ XXI - NXB Chính trị Quốc gia -H. 2002).

7. Nghị quyết số 11-NQ/TW “Về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

8. Báo cáo đánh giá tình hình giới ở Việt Nam tháng 12-2006 của Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á, Vụ Phát triển Vương quốc Anh, Cơ quan Phát triển quốc tế Ca-na-đa...
Older Posts Home
  • Recent Posts
  • Comments

footerwidget1

footerwidget2

footerwidget3

footerwidget4