[caption id="attachment_2173" align="alignleft" width="300" caption="Người đủ 80 tuổi từ ngày 1/1/2011 trở về trước thì được hưởng TCXH hằng tháng từ ngày 1/1/2011."]
[/caption]
Bộ Lao động - Thương binh và xã hội vừa ban hành Thông tư số 17/2011/TT-BLĐTBXH quy định hồ sơ, thủ tục thực hiện trợ cấp xã hội (TCXH) hằng tháng, hỗ trợ chi phí mai táng và tiếp nhận người cao tuổi vào cở sở bảo trợ xã hội.
Sau 17 ngày sẽ có Quyết định trợ cấp
Theo đó, người đủ 80 tuổi từ ngày 1/1/2011 trở về trước thì được hưởng TCXH hằng tháng từ ngày 1/1/2011. Các trường hợp khác được hưởng trợ cấp xã hội từ thời điểm người đó đủ 80 tuổi. Để được hưởng TCXH hằng tháng, cao người cao tuổi (NCT) hoặc gia đình, người thân, người giám hộ NCT kê khai đầy đủ thông tin vào Tờ khai thông tin của NCT và có bản sao chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ khẩu gửi UBND cấp xã.
Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận Tờ khai của người cao tuổi, Hội đồng xét duyệt TCXH cấp xã tổ chức họp, xét duyệt hồ sơ và niêm yết công khai kết quả xét duyệt tại trụ sở UBND cấp xã (trong thời hạn 3 ngày làm việc), đồng thời thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong địa bàn xã. Trường hợp có khiếu nại, tố cáo của công dân thì trong thời hạn 10 ngày, Hội đồng xét duyệt này có trách nhiệm xác minh, thẩm tra, kết luận cụ thể và công khai trước nhân dân.
Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị của cấp xã, Phòng LĐTBXH có trách nhiệm thẩm định, trình Chủ tịch UBND cấp huyện Quyết định trợ cấp. Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm ký Quyết định TCXH hằng tháng đối với NCT trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ do Phòng LĐTBXH trình.
Như vậy, nếu không có khiếu nại, tố cáo thì từ khi NCT nộp Tờ khai thông tin đến lúc nhận được Quyết định TCXH hằng tháng là 17 ngày. Thủ tục này cũng được áp dụng đối với trường hợp NCT đủ điều kiện tiếp nhận vào sống trong cơ sở bảo trợ xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng.
Thay đổi nơi cư trú, hưởng chế độ ra sao?
Cũng theo Thông tư, thủ tục hưởng TCXH hằng tháng khi NCT thay đổi nơi cư trú cũng được thực hiện: Khi NCT đang nhận TCXH hằng tháng chuyển từ xã, phường, thị trấn này sang xã, phường, thị trấn khác trong cùng cấp huyện thì Phòng LĐTBXH trình Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định chi trả TCXH hằng tháng từ nơi ở cũ sang nơi ở mới.
Trường hợp NCT đang nhận TCXH hằng tháng chuyển từ quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sang quận, huyện, thị xã, thành phố khác trong cùng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì thực hiện như sau: Phòng LĐTBXH có trách nhiệm trình Chủ tịch UBND cấp huyện nơi NCT đang hưởng TCXH hằng tháng Quyết định thôi hưởng trợ cấp và có giấy giới thiệu, kèm theo hồ sơ để NCT đến làm thủ tục nhận TCXH hằng tháng tại nơi ở mới.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được giấy giới thiệu và hồ sơ hưởng TCXH hằng tháng của NCT, Phòng LĐTBXH cấp huyện tại nơi ở mới của NCT tiếp nhận, xem xét hồ sơ trình Chủ tịch UBND cấp huyện ra Quyết định TCXH hằng tháng đối với NCT theo mức của địa phương mình.
Trường hợp NCT đang hưởng TCXH hằng tháng từ tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương này sang tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác thì thủ tục thực hiện tương tự đối với diện NCT chuyển từ quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sang quận, huyện, thị xã, thành phố khác trong cùng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Thời gian hưởng TCXH hằng tháng tại nơi ở mới được tính từ tháng tiếp theo của tháng thôi hưởng TCXH hằng tháng ghi trong Quyết định thôi hưởng TCXH hằng tháng của Chủ tịch UBND cấp huyện nơi ở cũ của NCT.
Để được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, NCT hoặc gia đình, người thân, người giám hộ phải làm đơn, sơ yếu lý lịch của NCT gửi UBND cấp xã. Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn và sơ yếu lý lịch của NCT, Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội cấp xã tổ chức họp, xét duyệt hồ sơ và niêm yết công khai kết quả xét duyệt tại trụ sỏ UBND cấp xã trong 3 ngày làm việc, đồng thời thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong địa bàn xã…
NCT đang sống trong cơ sở bảo trợ xã hội có một trong các điều kiện sau thì được đưa về sống tại gia đình, cộng đồng: NCT tự nguyện đề nghị được sống ở cộng đồng; có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; không đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc trong cơ sở bảo trợ xã hội theo quy định…
Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/7/2011./.
Bài và ảnh: Đông Quang, http://phapluatvn.vn …
Bộ Lao động - Thương binh và xã hội vừa ban hành Thông tư số 17/2011/TT-BLĐTBXH quy định hồ sơ, thủ tục thực hiện trợ cấp xã hội (TCXH) hằng tháng, hỗ trợ chi phí mai táng và tiếp nhận người cao tuổi vào cở sở bảo trợ xã hội.
Sau 17 ngày sẽ có Quyết định trợ cấp
Theo đó, người đủ 80 tuổi từ ngày 1/1/2011 trở về trước thì được hưởng TCXH hằng tháng từ ngày 1/1/2011. Các trường hợp khác được hưởng trợ cấp xã hội từ thời điểm người đó đủ 80 tuổi. Để được hưởng TCXH hằng tháng, cao người cao tuổi (NCT) hoặc gia đình, người thân, người giám hộ NCT kê khai đầy đủ thông tin vào Tờ khai thông tin của NCT và có bản sao chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ khẩu gửi UBND cấp xã.
Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận Tờ khai của người cao tuổi, Hội đồng xét duyệt TCXH cấp xã tổ chức họp, xét duyệt hồ sơ và niêm yết công khai kết quả xét duyệt tại trụ sở UBND cấp xã (trong thời hạn 3 ngày làm việc), đồng thời thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong địa bàn xã. Trường hợp có khiếu nại, tố cáo của công dân thì trong thời hạn 10 ngày, Hội đồng xét duyệt này có trách nhiệm xác minh, thẩm tra, kết luận cụ thể và công khai trước nhân dân.
Trong thời hạn 7 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị của cấp xã, Phòng LĐTBXH có trách nhiệm thẩm định, trình Chủ tịch UBND cấp huyện Quyết định trợ cấp. Chủ tịch UBND cấp huyện có trách nhiệm ký Quyết định TCXH hằng tháng đối với NCT trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ do Phòng LĐTBXH trình.
Như vậy, nếu không có khiếu nại, tố cáo thì từ khi NCT nộp Tờ khai thông tin đến lúc nhận được Quyết định TCXH hằng tháng là 17 ngày. Thủ tục này cũng được áp dụng đối với trường hợp NCT đủ điều kiện tiếp nhận vào sống trong cơ sở bảo trợ xã hội nhưng có người nhận chăm sóc tại cộng đồng.
Thay đổi nơi cư trú, hưởng chế độ ra sao?
Cũng theo Thông tư, thủ tục hưởng TCXH hằng tháng khi NCT thay đổi nơi cư trú cũng được thực hiện: Khi NCT đang nhận TCXH hằng tháng chuyển từ xã, phường, thị trấn này sang xã, phường, thị trấn khác trong cùng cấp huyện thì Phòng LĐTBXH trình Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định chi trả TCXH hằng tháng từ nơi ở cũ sang nơi ở mới.
Trường hợp NCT đang nhận TCXH hằng tháng chuyển từ quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sang quận, huyện, thị xã, thành phố khác trong cùng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì thực hiện như sau: Phòng LĐTBXH có trách nhiệm trình Chủ tịch UBND cấp huyện nơi NCT đang hưởng TCXH hằng tháng Quyết định thôi hưởng trợ cấp và có giấy giới thiệu, kèm theo hồ sơ để NCT đến làm thủ tục nhận TCXH hằng tháng tại nơi ở mới.
Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được giấy giới thiệu và hồ sơ hưởng TCXH hằng tháng của NCT, Phòng LĐTBXH cấp huyện tại nơi ở mới của NCT tiếp nhận, xem xét hồ sơ trình Chủ tịch UBND cấp huyện ra Quyết định TCXH hằng tháng đối với NCT theo mức của địa phương mình.
Trường hợp NCT đang hưởng TCXH hằng tháng từ tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương này sang tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác thì thủ tục thực hiện tương tự đối với diện NCT chuyển từ quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh sang quận, huyện, thị xã, thành phố khác trong cùng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Thời gian hưởng TCXH hằng tháng tại nơi ở mới được tính từ tháng tiếp theo của tháng thôi hưởng TCXH hằng tháng ghi trong Quyết định thôi hưởng TCXH hằng tháng của Chủ tịch UBND cấp huyện nơi ở cũ của NCT.
Để được tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội, NCT hoặc gia đình, người thân, người giám hộ phải làm đơn, sơ yếu lý lịch của NCT gửi UBND cấp xã. Trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn và sơ yếu lý lịch của NCT, Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội cấp xã tổ chức họp, xét duyệt hồ sơ và niêm yết công khai kết quả xét duyệt tại trụ sỏ UBND cấp xã trong 3 ngày làm việc, đồng thời thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng trong địa bàn xã…
NCT đang sống trong cơ sở bảo trợ xã hội có một trong các điều kiện sau thì được đưa về sống tại gia đình, cộng đồng: NCT tự nguyện đề nghị được sống ở cộng đồng; có người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng tại cộng đồng; không đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc trong cơ sở bảo trợ xã hội theo quy định…
Thông tư có hiệu lực từ ngày 15/7/2011./.
Bài và ảnh: Đông Quang, http://phapluatvn.vn …
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 35/2011-NĐ-CP quy định nội dung, nguyên tắc, thẩm quyền, trách nhiệm và bảo đảm điều kiện cho việc áp dụng biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Nghị định quy định cụ thể các biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) gồm:
1. Đưa yêu cầu bảo vệ ANTT vào xây dựng pháp luật, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, hoàn thiện thể chế.
2. Phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi lợi dụng hoạt động xây dựng pháp luật, hợp tác quốc tế về pháp luật để xâm hại đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Sử dụng pháp luật, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế để quản lý nhà nước về bảo vệ ANTT và thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ ANTT.
Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm gửi hồ sơ đó đến Bộ Công an để lấy ý kiến về sự phù hợp với yêu cầu bảo vệ ANTT.
Ngoài ra, trong quá trình soạn thảo các văn bản trên, các Bộ, cơ quan ngang Bộ phải gửi hồ sơ xây dựng văn bản đó đến Bộ Công an để lấy ý kiến về tác động của văn bản đối với yêu cầu bảo vệ ANTT.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/7/2011.
(Tuấn Khang, chinhphu.vn)
Nghị định quy định cụ thể các biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) gồm:
1. Đưa yêu cầu bảo vệ ANTT vào xây dựng pháp luật, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, hoàn thiện thể chế.
2. Phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi lợi dụng hoạt động xây dựng pháp luật, hợp tác quốc tế về pháp luật để xâm hại đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
3. Sử dụng pháp luật, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế để quản lý nhà nước về bảo vệ ANTT và thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ ANTT.
Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm gửi hồ sơ đó đến Bộ Công an để lấy ý kiến về sự phù hợp với yêu cầu bảo vệ ANTT.
Ngoài ra, trong quá trình soạn thảo các văn bản trên, các Bộ, cơ quan ngang Bộ phải gửi hồ sơ xây dựng văn bản đó đến Bộ Công an để lấy ý kiến về tác động của văn bản đối với yêu cầu bảo vệ ANTT.
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/7/2011.
(Tuấn Khang, chinhphu.vn)
[caption id="attachment_1955" align="alignleft" width="300" caption="Nguồn ảnh: tonghoixaydungvn.org"]
[/caption]
Trong Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm tới, kế hoạch 5 năm 2011-2015 có vị trí bản lề. Vì vậy, những mục tiêu, nhiệm vụ thực hiện của kế hoạch 5 năm này được Đảng ta chỉ ra một cách cụ thể, hệ thống, toàn diện.
Quan điểm phát triển nhanh và bền vững
Văn kiện Đại hội XI của Đảng xác định: “Mục tiêu tổng quát trong 5 năm tới là: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
Những nội dung cụ thể của mục tiêu nêu trên thể hiện các quan điểm của Đảng về phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững; đổi mới đồng bộ, phù hợp kinh tế và chính trị; mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển; phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Với trình độ khoa học – công nghệ ngày càng cao; đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN kiên trì xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu và rộng.
Tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ chủ yếu
Thực hiện những mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2011- 2015 theo quan điểm nêu trên, Đại hội XI của Đảng xác định tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là, ổn định kinh tế vĩ mô để phát triển. Thực hiện đổi mới mô hình kinh tế tăng trưởng và cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Hai là, phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và giải quyết tốt các vấn đề xã hội.
Đây là vấn đề mấu chốt đòi hỏi nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức. Chăm lo giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống nhân dân. Tạo bước chuyển biến rõ rệt về tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bảo vệ môi trường, chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó với tình trạng biến đổi khí hậu.
Ba là, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng và bảo vệ đất nước là hai nhiệm vụ chiến lược không tách rời nhau nhằm giữ vững ổn định chính trị - xã hội; giữ vững độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Kịp thời ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu thù địch. Tiếp tục mở rộng, nâng cao các hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế.
Bốn là, phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Muốn vậy phải hoàn thiện nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nhà nước pháp quyền XNXH; đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, của Chính phủ và chính quyền địa phương. Đổi mới cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Thực hiện có hiệu quả đấu tranh phòng chống quan liêu tham nhũng, lãng phí. Đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động của các đoàn thể nhân dân.
Năm là, nâng cao chất lượng xây dựng Đảng. Đổi mới nâng cao chất lượng xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thiết thực, tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến dấu của Đảng. Tổ chức thực hiện có hiệu quả việc học tập làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên thực sự gương mẫu, nói đi đôi với làm. Đổi mới công tác cán bộ của Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở các cấp, các ngành, các địa phương...
PGS. TS. Trần Quang Nhiếp
(theo chinhphu.vn)...
Trong Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm tới, kế hoạch 5 năm 2011-2015 có vị trí bản lề. Vì vậy, những mục tiêu, nhiệm vụ thực hiện của kế hoạch 5 năm này được Đảng ta chỉ ra một cách cụ thể, hệ thống, toàn diện.
Quan điểm phát triển nhanh và bền vững
Văn kiện Đại hội XI của Đảng xác định: “Mục tiêu tổng quát trong 5 năm tới là: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.
Những nội dung cụ thể của mục tiêu nêu trên thể hiện các quan điểm của Đảng về phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững; đổi mới đồng bộ, phù hợp kinh tế và chính trị; mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển; phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất.
Với trình độ khoa học – công nghệ ngày càng cao; đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN kiên trì xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu và rộng.
Tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ chủ yếu
Thực hiện những mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2011- 2015 theo quan điểm nêu trên, Đại hội XI của Đảng xác định tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là, ổn định kinh tế vĩ mô để phát triển. Thực hiện đổi mới mô hình kinh tế tăng trưởng và cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực. Từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại. Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Hai là, phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và giải quyết tốt các vấn đề xã hội.
Đây là vấn đề mấu chốt đòi hỏi nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức. Chăm lo giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống nhân dân. Tạo bước chuyển biến rõ rệt về tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Bảo vệ môi trường, chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó với tình trạng biến đổi khí hậu.
Ba là, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng và bảo vệ đất nước là hai nhiệm vụ chiến lược không tách rời nhau nhằm giữ vững ổn định chính trị - xã hội; giữ vững độc lập, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Kịp thời ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu thù địch. Tiếp tục mở rộng, nâng cao các hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế.
Bốn là, phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Muốn vậy phải hoàn thiện nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nhà nước pháp quyền XNXH; đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, của Chính phủ và chính quyền địa phương. Đổi mới cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Thực hiện có hiệu quả đấu tranh phòng chống quan liêu tham nhũng, lãng phí. Đổi mới nâng cao chất lượng hoạt động của các đoàn thể nhân dân.
Năm là, nâng cao chất lượng xây dựng Đảng. Đổi mới nâng cao chất lượng xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thiết thực, tăng cường năng lực lãnh đạo, sức chiến dấu của Đảng. Tổ chức thực hiện có hiệu quả việc học tập làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên thực sự gương mẫu, nói đi đôi với làm. Đổi mới công tác cán bộ của Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng ở các cấp, các ngành, các địa phương...
PGS. TS. Trần Quang Nhiếp
(theo chinhphu.vn)...
Điều 1. Ban hành cơ chế, chính sách để Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 201 I - 2020 như sau:
1. Quan điểm:
Tạo điều kiện để Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 201 1 - 2020 là nhằm phát huy hơn nữa vai trò trung tâm và nòng cốt của Hội Nông dân Việt Nam trong phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới, góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện đại, bền vững, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Bảo đảm nguồn lực tài chính và những điều kiện cần thiết để Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp và phối hợp hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần.
2. Mục tiêu:
Ban hành các cơ chế, chính sách thích hợp để Hội Nông dân Việt Nam thực hiện được vai trò trung tâm và nòng cốt trong phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới, là thành viên tích cực của các chương trình về kinh tế- xã hội nông thôn, tham gia vào việc hoạch định các kế hoạch phát triền kinh tế- xã hội ở nông thôn.
- Nâng cao trách nhiệm của các bộ, ngành, các cơ quan liên quan tạo điều kiện và phát huy vai trò của Hội Nông dân Việt Nam tham gia quá trình xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách, các chương trình, đề án liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
3. Hội Nông dân Việt Nam chủ trì, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:
a) Đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh và chuyển thành đơn vị sự nghiệp để trực tiếp tổ chức các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ và dạy nghề cho nông dân; làm đầu mối tham gia với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTG ngày 27.11. 2009 của Thủ tướng Chính phủ.
- Nâng cấp, bổ sung trang thiết bị của 19 Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân đã có thuộc các tỉnh, thành Hội; đầu tư xây dựng mới các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc các tỉnh, thành Hội còn lại (mỗi năm đầu tư xây mới 4-5 Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh).
- Tổ chức các lớp bồi dưỡng, đào tạo nghề nông (trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản...) theo tiêu chuẩn học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp, dạy nghề dưới 3 tháng hoặc dạy nghề tại chỗ theo hình thức "cầm tay chỉ việc") cho các đối tượng là hội viên, nông dân trực tiếp làm nông nghiệp.
- Tham gia dạy nghề, liên kết dạy nghề và phối hợp đào tạo liên thông giữa các trình độ nghề cho lao động nông thôn, góp phần đáp ứng nhu cầu thị trường lao động.
- Cơ quan phối hợp: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan.
- Kinh phí thực hiện: Do ngân sách nhà nước cấp cho Hội Nông dân Việt Nam thực hiện.
b) Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân Việt Nam với các nội dung sau:
- Trên cơ sở tổ chức và hoạt động đã có, đổi mới Quỹ Hỗ trợ nông dân thành tổ chức trực thuộc hệ thống Hội Nông dân Việt Nam, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có tư cách pháp nhân, có điều lệ hoạt động, có con dấu và tài khoản riêng.
- Năm 2011, ngân sách trung ương hỗ trợ cho Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Trung ương Hội Nông dân Việt Nam 300 tỷ đồng (Ba trăm tỷ đồng); từ năm 2012 - 2020, mỗi năm căn cứ vào tình hình cụ thể, ngân sách trung ương hỗ trợ thêm để tăng nguồn Quỹ hỗ trợ nông dân.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo việc thành lập quỹ; hằng năm hỗ trợ ngân sách địa phương cho Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân các cấp.
- Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân phù hợp với các quy định hiện hành; trực tiếp quản lý, bảo toàn nguồn vốn; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về các hoạt động và hiệu quả hoạt động của Quỹ.
- Cơ quan phối hợp quản lý: Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan liên quan.
4. Hội Nông dân Việt Nam phối hợp với các Bộ, ngành để thực hiện các chương trình, đề án trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghi quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn như sau:
a) Cơ chế tham gia:
- Tiếp tục thực hiện cơ chế hiện hành đối với Hội Nông dân Việt Nam theo Quyết định số 17/1998/QĐ-TTg ngày 24.1.1998 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy định trách nhiệm của các bộ, các cấp chính quyền trong việc tạo điều kiện để các cấp Hội Nông dân Việt Nam hoạt động có hiệu quả.
- Hàng năm, trong từng chương trình, đề án, dự án của Chính phủ và địa phương liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; các bộ, ngành, uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thoả thuận với Hội Nông dân Việt Nam cùng cấp xác định những nhiệm vụ cụ thể để phân bổ và trích lập dự toán giao cho Hội Nông dân Việt Nam cùng cấp thực hiện; báo cáo cơ quan chức năng bố trí vào dự toán ngân sách hàng năm của Hội Nông dân.
- Các Bộ chủ trì các chương trình, đề án nêu tại điểm b khoản 4 Điều này có trách nhiệm phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam trích lập dự toán kinh phí chi tiết tương ứng với phần nhiệm vụ Hội Nông dân Việt Nam được giao thực hiện, báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư để ghi vào danh mục đầu tư và phân bổ kinh phí hằng năm giao Hội Nông dân Việt Nam thực hiện; đồng thời báo cáo Bộ Tài chính và các cơ quan chức năng của Chính phủ xem xét, bố trí vào dự toán ngân sách hàng năm của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.
b) Hội Nông dân Việt Nam phối hợp với các Bộ, ngành sau để thực hiện các nhiệm vụ liên quan như sau:
- Tham gia với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTG ngày 27.11.2009 của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng và nhân rộng một số mô hình giảm nghèo bền vững vùng đặc biệt khó khăn.
- Tham gia với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện các hoạt động khuyến nông bằng nguồn ngân sách nhà nước; hướng dẫn và phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn; xây dựng và nhân rộng mô hình kinh tế hợp tác sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ nông sản. Tham gia với Bộ Công Thương thực hiện chính sách của Chính phủ về tiêu thụ nông sản hàng hoá cho nông dân.
- Tham gia với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường nông thôn; nâng cao năng lực thích ứng cho nông dân đối với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
- Tham gia với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, hội viên và nông dân về văn hoá và nhiệm vụ phát triển văn hoá nông thôn. Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hoá, mô hình thôn, ấp, bản, làng văn hoá; xây dựng và duy trì các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao quần chúng; vận động và hướng dẫn nông dân tham gia thường xuyên các hoạt động văn hóa, thể thao.
- Tham gia với Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức các hoạt động truyền thông ứng dụng công nghệ thông tin cho nông dân.
5. Kinh phí thực hiện: Từ nguồn kinh phí sự nghiệp hàng năm và từ nguồn kinh phí thực hiện các chương trình, đề án trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Đối với các chương trình nhiệm vụ của Nhà nước giao cho các cấp Hội Nông dân Việt Nam chủ trì: Kinh phí được giao trực tiếp trong dự toán ngân sách hằng năm cho các cấp Hội Nông dân Việt Nam thực hiện theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành.
Đối với các chương trình, nhiệm vụ của Nhà nước giao cho các bộ, ngành. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chủ trì: Các bộ, ngành, uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố có trách nhiệm thoả thuận với Hội Nông dân Việt Nam cùng cấp trích lập dự toán tương ứng với phần nhiệm vụ giao cho Hội Nông dân thực hiện.
Điều 2. Tổ chức thực hiện:
1. Hội Nông dân Việt Nam chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành các cơ quan liên quan. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và chỉ đạo các cấp Hội nông dân ở các địa phương phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan để triển khai thực hiện Quyết định này; xây dựng các dự án cụ thể theo nhiệm vụ tại khoản 3 Điều 1 của Quyết định này trình các cấp có thẩm quyền thẩm định, Phê duyệt theo quy định để tổ chức thực hiện; báo cáo Thủ tướng Chính phủ các vấn đề phát sinh trong tổ chức thực hiện và kiến nghị về những thay đổi, điều chỉnh cần thiết phù hợp với từng thời kỳ.
2. Trách nhiệm của các Bộ, ngành, chính quyền địa phương:
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bố trí kinh phí hàng năm cho Hội Nông dân Việt Nam tổ chức các hoạt động hướng dẫn và phát triển các hình thức kinh phí tập thể trong nông nghiệp, nông thôn; xây dựng và nhân rộng mô hình kinh tế hợp tác trong sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ nông sản bằng nguồn kinh phí sự nghiệp kinh tế và kinh phí thực hiện Đề án phát triển mô hình liên kết sản xuất giữa hộ nông dân với các thành phần kinh tế ở nông thôn. Hằng năm, phân bổ một phần từ nguồn kinh phí khuyến nông Trung ương giao Hội Nông dân Việt Nam thực hiện.
- Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tạo điều kiện để Hội Nông dân Việt Nam tham gia thực hiện Đề án phát triển văn hóa nông thôn theo đề xuất của Hội Nông dân Việt Nam.
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hàng năm phân bổ chỉ tiêu dạy nghề cho Hội Nông dân Việt Nam thực hiện theo Quyết định số 1956/QĐ - TTg ngày 27.11.2009 của Thủ tướng Chính phủ; chủ trì, phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn việc quy hoạch để xây dựng các Trung tâm dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh.
- Bộ Công Thương tạo điều kiện cho Hội Nông dân Việt Nam xây dựng và thực hiện một số dự án về mô hình tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư nông nghiệp trong Đề án Phát triển thương mại nông thôn do Bộ chủ trì.
- Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn Hội Nông dân Việt Nam xây dựng dự toán chi sự nghiệp môi trường hàng năm để tham gia thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường nông thôn và Chương trình mục tiêu quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, phù hợp với khả năng của Hội.
- Bộ Thông tin và Truyền thông: Hướng dẫn Hội Nông dân Việt Nam tham gia các hoạt động truyền thông và các hoạt động trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ liên quan đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Giúp Hội Nông dân Việt Nam đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực, nghiệp vụ truyền thông cho cán bộ của Hội. Hàng năm, bố trí một phần kinh phí sự nghiệp kinh tế do Bộ quản lý để Hội Nông dân Việt Nam tổ chức các hoạt động truyền thông, ứng dụng công nghệ thông tin cho nông dân.
- Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Hàng năm phối hợp với các Bộ, ngành liên quan cân đối ngân sách và các nguồn tài trợ khác để phân bổ kinh phí giao Hội Nông dân Việt Nam chủ trì thực hiện hoặc phối hợp thực hiện một số nhiệm vụ trong các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn; hướng dẫn việc hỗ trợ bổ sung ngân sách cho Quỹ hỗ trợ nông dân ở các cấp Hội Nông dân Việt Nam kể từ năm 2011; xây dựng cơ chế quản lý tài chính và giám sát việc thực hiện các cơ chế, chính sách báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, căn cứ nội dung triển khai thực hiện các chương trình, đề án trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, xác định những nội dung cụ thể và kinh phí kèm theo để giao cho Hội Nông dân cùng cấp thực hiện. Chỉ đạo các sở, ban, ngành xây dựng cơ chế phối hợp để Hội Nông dân cùng cấp trực tiếp thực hiện các chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống nông dân. Chỉ đạo việc cấp một phần kinh phí khuyến nông cho các cấp hội nông dân thực hiện; thành lập và hỗ trợ vốn cho Quỹ Hỗ trợ nông dân ở địa phương; xây dựng các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân trực thuộc Hội Nông dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Điều 4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Theo Chương trình hành động phòng, chống mại dâm giai đoạn 2011 - 2015 (Chương trình) vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phấn đấu giảm 40% xã phường, thị trấn trọng điểm về tệ nạn mại dâm; 60% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn lành mạnh không có tệ nạn mại dâm.
Một trong những nội dung để xây dựng xã, phường, thị trấn lành mạnh, không có tệ nạn mại dâm, phòng ngừa và giảm thiểu tác hại của tệ nạn mại dâm đối với đời sống xã hội là cần tăng cường hoạt động kiểm tra liên ngành và xử lý vi phạm pháp luật về tệ nạn mại dâm; lồng ghép các chương trình kinh tế xã hội có liên quan với công tác phòng, chống tệ nạn mại dâm; xây dựng quỹ hỗ trợ xã hội, hỗ trợ vốn, học nghề, tìm kiếm việc làm cho người mại dâm.
Sẽ xây dựng bộ công cụ truyền thông về phòng, chống mại dâm
Chỉ tiêu của Chương trình là phấn đấu 100% xã, phường tổ chức tuyên truyền bằng hình thức phù hợp về tệ nạn mại dâm, tác hại của tệ nạn mại dâm, hành vi tình dục lành mạnh, an toàn, phòng ngừa lây nhiễm HIV và các bệnh lây qua đường tình dục nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong công tác phòng, chống mại dâm.
Để thực hiện được chỉ tiêu đó, sẽ xây dựng bộ công cụ truyền thông về phòng, chống mại dâm, nếp sống văn minh, hành vi tình dục lành mạnh, an toàn; xây dựng giáo trình giảng dạy về nếp sống văn minh, hành vi tình dục lành mạnh, an toàn cho đội ngũ giảng viên (sách mỏng, tờ rơi, tranh áp phích, sổ tay cho tuyên truyền viên, lịch và các phóng sự, phim...).
Đồng thời tiến hành đấu tranh, triệt phá các đường dây ổ nhóm hoạt động mại dâm và xử lý nghiêm minh 100% số vụ việc, đường dây hoạt động mại dâm được phát hiện; giảm hoạt động mại dâm trá hình dưới mọi hình thức trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ (khách sạn, nhà hàng, nhà nghỉ, vũ trường, cơ sở karaoke...).
Thí điểm các mô hình cơ sở hỗ trợ người bán dâm tái hòa nhập cộng đồng
Chương trình cũng sẽ thí điểm xây dựng mô hình phòng ngừa, trợ giúp làm giảm tổn thương, phòng chống lây nhiễm HIV tại cộng đồng.
Bên cạnh đó, nghiên cứu, xây dựng cơ chế pháp lý, tài chính phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bán dâm được dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ can thiệp dự phòng, khám và điều trị HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, chương trình điều trị Methadone cho người bán dâm có sử dụng ma túy;
Ngoài ra, nghiên cứu, xây dựng thí điểm các mô hình cơ sở hỗ trợ người bán dâm tái hòa nhập cộng đồng. Các cơ sở này có chức năng cung cấp các dịch vụ tư vấn tâm lý, pháp lý, hỗ trợ khám chữa bệnh lây truyền qua đường tình dục và bệnh AIDS, giáo dục kỹ năng sống, trợ giúp tái hòa nhập cộng đồng.
Tổng kinh phí thực hiện Chương trình là 629 tỷ đồng.
Hoàng Diên
http://chinhphu.vn
Một trong những nội dung để xây dựng xã, phường, thị trấn lành mạnh, không có tệ nạn mại dâm, phòng ngừa và giảm thiểu tác hại của tệ nạn mại dâm đối với đời sống xã hội là cần tăng cường hoạt động kiểm tra liên ngành và xử lý vi phạm pháp luật về tệ nạn mại dâm; lồng ghép các chương trình kinh tế xã hội có liên quan với công tác phòng, chống tệ nạn mại dâm; xây dựng quỹ hỗ trợ xã hội, hỗ trợ vốn, học nghề, tìm kiếm việc làm cho người mại dâm.
Sẽ xây dựng bộ công cụ truyền thông về phòng, chống mại dâm
Chỉ tiêu của Chương trình là phấn đấu 100% xã, phường tổ chức tuyên truyền bằng hình thức phù hợp về tệ nạn mại dâm, tác hại của tệ nạn mại dâm, hành vi tình dục lành mạnh, an toàn, phòng ngừa lây nhiễm HIV và các bệnh lây qua đường tình dục nhằm nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong công tác phòng, chống mại dâm.
Để thực hiện được chỉ tiêu đó, sẽ xây dựng bộ công cụ truyền thông về phòng, chống mại dâm, nếp sống văn minh, hành vi tình dục lành mạnh, an toàn; xây dựng giáo trình giảng dạy về nếp sống văn minh, hành vi tình dục lành mạnh, an toàn cho đội ngũ giảng viên (sách mỏng, tờ rơi, tranh áp phích, sổ tay cho tuyên truyền viên, lịch và các phóng sự, phim...).
Đồng thời tiến hành đấu tranh, triệt phá các đường dây ổ nhóm hoạt động mại dâm và xử lý nghiêm minh 100% số vụ việc, đường dây hoạt động mại dâm được phát hiện; giảm hoạt động mại dâm trá hình dưới mọi hình thức trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ (khách sạn, nhà hàng, nhà nghỉ, vũ trường, cơ sở karaoke...).
| Trong 5 năm qua, các địa phương đã tổ chức chữa trị, giáo dục cho 18.778 lượt người bán dâm, trong đó số đối tượng ở Trung tâm là 10.227 lượt người (chiếm 54,4%), số ở cộng đồng là 8.551 lượt người (45,6%). Số đối tượng được dạy nghề, tạo việc làm là 12.812, trong đó Trung tâm là 7,384 đối tượng, tại cộng đồng là 5.428 đối tượng. |
Thí điểm các mô hình cơ sở hỗ trợ người bán dâm tái hòa nhập cộng đồng
Chương trình cũng sẽ thí điểm xây dựng mô hình phòng ngừa, trợ giúp làm giảm tổn thương, phòng chống lây nhiễm HIV tại cộng đồng.
Bên cạnh đó, nghiên cứu, xây dựng cơ chế pháp lý, tài chính phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bán dâm được dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ can thiệp dự phòng, khám và điều trị HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục, chương trình điều trị Methadone cho người bán dâm có sử dụng ma túy;
Ngoài ra, nghiên cứu, xây dựng thí điểm các mô hình cơ sở hỗ trợ người bán dâm tái hòa nhập cộng đồng. Các cơ sở này có chức năng cung cấp các dịch vụ tư vấn tâm lý, pháp lý, hỗ trợ khám chữa bệnh lây truyền qua đường tình dục và bệnh AIDS, giáo dục kỹ năng sống, trợ giúp tái hòa nhập cộng đồng.
Tổng kinh phí thực hiện Chương trình là 629 tỷ đồng.
| Một số kết quả công tác phòng, chống tệ nạn mại dâm giai đoạn 2006 - 2010: - Các lực lượng chức năng đã thanh tra, kiểm tra 182.656 lượt cơ sở kinh doanh dịch vụ; phát hiện 68.249 cơ sở vi phạm; xử lý cảnh cáo 12.563 lượt cơ sở vi phạm, phạt tiền 37.130 lượt cơ sở, đình chỉ kinh doanh 1.886 cơ sở, thu hồi giấy phép kinh doanh 397 cơ sở. Tổng số tiền xử phạt hơn 103 tỷ đồng. - Lực lượng công an các cấp đã truy quét, triệt phá 6.109 vụ mại dâm, với 19.443 đối tượng (gồm 4.113 chủ chứa, môi giới; 9.067 gái bán dâm; 6.263 khách mua dâm). Những địa phương đã triệt phá được nhiều đường dây, ổ nhóm mại dâm với quy mô lớn, tính chất hoạt động phức tạp như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cần Thơ, Tây Ninh, Đồng Tháp, Đồng Nai,... |
Hoàng Diên
http://chinhphu.vn