VNSW xin giới thiệu bài viết "Mô hình quản lý an toàn vệ sinh lao động tại khu vực làng nghề" của CN Cao Thị Minh Hữu. Bài viết được đăng trong Bản tin số 26 Viện Khoa học lao động xã hội.
Thực trạng An toàn vệ sinh Lao động tại khu vực làng nghề
Trong vài năm gần đây, quá trình công nghiệp hóa cùng với việc áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đã làm cho các làng nghề thay đổi nhanh chóng. Việc phát triển các làng nghề không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội, góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần phân phối lại lực lượng lao động trong xã hội, giải quyết việc làm, tăng thu nhập của người lao động, xoá đói giảm nghèo. Hiện nay, với khoảng hơn 2.000 làng nghề hoạt động ở 6 lĩnh vực chính: làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ; làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ và thuộc da; làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá; làng nghề tái chế phế liệu; làng nghề thủ công mỹ nghệ; và các nhóm ngành nghề khác… đã thu hút khoảng 14 triệu lao động tham gia, kim ngạch xuất khẩu từ làng nghề hàng năm đạt khoảng 1,5 tỷ USD.[1] Sản phẩm tiểu thủ công nghiêp tại các làng nghề Việt Nam đã có mặt tại 163 nước và vùng lãnh thổ. Mô hình chủ yếu ở các làng nghề là hộ gia đình, công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân hoạt động với đặc điểm sản xuất chủ yếu là sản xuất tại nhà ở hoặc xen cư, một số làng nghề đã bước đầu đi vào quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề với một tỷ lệ nhỏ các hộ sản xuất/ doanh nghiệp tham gia.
Bên cạnh sự phát triển đó thì đồng thời tại các làng nghề đã phát sinh ra các yếu tố nguy hiểm, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động, cộng đồng dân cư như bụi, ồn, hóa chất độc hại,… Nguyên nhân là do hộ gia đình/ doanh nghiệp làng nghề với công nghệ lạc hậu, đơn giản, vốn đầu tư thấp nên việc cải tiến công nghệ và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật rất hạn chế. Phần lớn các hộ gia đình/ doanh nghiệp có mặt bằng sản xuất chật hẹp, nằm cận kề khu dân cư hoặc tại gia đình, xưởng tạm bợ, thiếu ánh sáng; vật liệu sản xuất và sản phẩm làm ra bố trí, sắp xếp lộn xộn, bừa bãi. Việc tổ chức sản xuất - tổ chức lao động không hợp lý, với lao động thủ công chiếm tới 70 - 80 % , và có tới gần 80% các khâu trong dây chuyền công nghệ người lao động phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, vất vả[2].
Việc phát triển mang tính tự phát của các làng nghề cùng với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên các chủ hộ gia đình/ doanh nghiệp thường ít chú ý đầu tư cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, việc thực hiện các trách nhiệm pháp lý về Môi trường, an toàn vệ sinh lao động hầu như không thực hiện. Hầu hết các cơ sở sản xuất đều không có hệ thống thông gió, hút bụi, xử lý hơi khí độc trong nhà xưởng, ngay cả các cơ sở sản xuất sử dụng nhiều hoá chất, nhiều chất dễ cháy, dễ nổ (a xít, xút, cao su, xà phòng, đồ nhựa...); Không có hoặc thiếu bộ phận làm công tác ATVSLĐ; Không trang bị hoặc trang bị không đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân cho NLĐ; Việc tổ chức huấn luyện ATVSLĐ cho NLĐ mang tính sơ sài, hình thức, thậm chí nhiều nơi không tổ chức huấn luyện; Không có sổ sách theo dõi, thống kê đầy đủ tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và thực hiện không nghiêm túc chế độ khai báo khi xảy ra tai nạn lao động với các cơ quan chức năng; …
Công tác quản lý an toàn vệ sinh lao động các cấp đối với khu vực này gần như đang bị bỏ ngỏ: rất ít các cuộc thanh kiểm tra việc tuân thủ luật pháp về lĩnh vực an toàn vệ sinh lao đông, kiểm tra việc sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn tại các hộ gia đình/doanh nghiệp.
Để đáp ứng được mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, giảm thiểu ô nhiễm Môi trường, đảm bảo sức khỏe cho người lao động cũng như cộng đồng dân cư đồng thời tăng cường sự tham gia của các cấp chính quyền, người dân trong công tác xã hội hóa an toàn vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường, các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp cần khuyến khích triển khai áp dụng Mô hình quản lý An toàn vệ sinh lao động tại khu vực làng nghề theo phân cấp.
Điều kiện thực hiện
- Nhận thức của các bên liên quan (cơ quan quản lý địa phương, doanh nghiệp/cơ sở sản xuất, cộng đồng dân cư làng nghề) về vấn đề an toàn vệ sinh lao động đúng tầm quan trọng và có ý thức cải thiện;
- Sự sẵn sàng tham gia của các cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất và sự ủng hộ của cộng đồng dân cư;
- Hỗ trợ kỹ thuật, tài chính trong quá trình áp dụng;
- Cam kết thực hiện nghiêm túc của các doanh nghiệp/hộ gia đình thử nghiệm quy trình và ban quản lý cụm công nghiệp, UBND xã/phường.
Quy trình thực hiện
Bước 1. Chuẩn bị
Bước 2. Hội thảo khởi động tại địa phương giới thiệu mô hình
Bước 3. Áp dụng Mô hình
1. Tổ chức bộ phận thực hiện
1.1. Mô hình quản lý ATVSLĐ có hộ gia đình/doanh nghiệp nằm rải rác xen cư:
- Rà soát, bổ sung nhiệm vụ quản lý ATVSLĐ cho UBND cấp xã/phường theo các văn bản quy định hiện hành: Xây dựng các nội dung quản lý ATVSLĐ cho UBND.
- UBND xã phân công cán bộ phụ trách công tác ATVSLĐ.
- Phân công giao nhiệm vụ cho lãnh đạo các thôn ấp.
- Các trưởng thôn/ấp triển khai nội dung về công tác an toàn vệ sinh lao động đến các tổ trưởng tổ tự quản trong thôn/ấp.
- Các tổ trưởng tổ tự quản triển khai đến các hộ trong dân.
1.2. Mô hình quản lý ATVSLĐ có Cụm Công nghiệp làng nghề trực thuộc UBND xã/phường:
- Rà soát, bổ sung nhiệm vụ quản lý ATVSLĐ cho Ban quản lý cụm công nghiệp theo các văn bản quy định hiện hành: Xây dựng các nội dung quản lý ATVSLĐ cho UBND.
- Ban quản lý phân công cán bộ phụ trách công tác ATVSLĐ.
- Xây dựng hợp tác giữa Ban quản lý- các ban ngành đoàn thể- Quản lý cấp thôn/ấp.
2. Hướng dẫn xây dựng và trình ban hành văn bản quản lý ATVSLĐ tuân thủ hệ thống luật pháp hiện hành.
3. Hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động: xác định theo mức độ ưu tiên theo các nguy cơ mất an toàn, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng dân cư.
4. Hướng dẫn triển khai hoạt động
- Hoạt động tập huấn, đào tạo;
- Hoạt động kiểm tra (kế hoạch, nội dung, phương pháp...);
- Hoạt động hỗ trợ : xây dựng mô hình quản lý ATVSLĐ phù hợp với DN/ cơ sở hộ gia đình, triển khai áp dụng;
- Xây dựng hệ thống báo cáo (mẫu biểu báo cáo, cơ chế báo cáo...).
Bước 4. Giám sát quá trình áp dụng
- Cung cấp công cụ áp dụng.
- Xây dựng các hệ thống mẫu biểu theo dõi quá trình áp dụng.
Bước 5. Đánh giá kết quả áp dụng
Thực trạng An toàn vệ sinh Lao động tại khu vực làng nghề
Trong vài năm gần đây, quá trình công nghiệp hóa cùng với việc áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn đã làm cho các làng nghề thay đổi nhanh chóng. Việc phát triển các làng nghề không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội, góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế mà còn góp phần phân phối lại lực lượng lao động trong xã hội, giải quyết việc làm, tăng thu nhập của người lao động, xoá đói giảm nghèo. Hiện nay, với khoảng hơn 2.000 làng nghề hoạt động ở 6 lĩnh vực chính: làng nghề chế biến lương thực, thực phẩm, chăn nuôi và giết mổ; làng nghề dệt nhuộm, ươm tơ và thuộc da; làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng và khai thác đá; làng nghề tái chế phế liệu; làng nghề thủ công mỹ nghệ; và các nhóm ngành nghề khác… đã thu hút khoảng 14 triệu lao động tham gia, kim ngạch xuất khẩu từ làng nghề hàng năm đạt khoảng 1,5 tỷ USD.[1] Sản phẩm tiểu thủ công nghiêp tại các làng nghề Việt Nam đã có mặt tại 163 nước và vùng lãnh thổ. Mô hình chủ yếu ở các làng nghề là hộ gia đình, công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân hoạt động với đặc điểm sản xuất chủ yếu là sản xuất tại nhà ở hoặc xen cư, một số làng nghề đã bước đầu đi vào quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề với một tỷ lệ nhỏ các hộ sản xuất/ doanh nghiệp tham gia.
Bên cạnh sự phát triển đó thì đồng thời tại các làng nghề đã phát sinh ra các yếu tố nguy hiểm, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động, cộng đồng dân cư như bụi, ồn, hóa chất độc hại,… Nguyên nhân là do hộ gia đình/ doanh nghiệp làng nghề với công nghệ lạc hậu, đơn giản, vốn đầu tư thấp nên việc cải tiến công nghệ và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật rất hạn chế. Phần lớn các hộ gia đình/ doanh nghiệp có mặt bằng sản xuất chật hẹp, nằm cận kề khu dân cư hoặc tại gia đình, xưởng tạm bợ, thiếu ánh sáng; vật liệu sản xuất và sản phẩm làm ra bố trí, sắp xếp lộn xộn, bừa bãi. Việc tổ chức sản xuất - tổ chức lao động không hợp lý, với lao động thủ công chiếm tới 70 - 80 % , và có tới gần 80% các khâu trong dây chuyền công nghệ người lao động phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, vất vả[2].
Việc phát triển mang tính tự phát của các làng nghề cùng với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên các chủ hộ gia đình/ doanh nghiệp thường ít chú ý đầu tư cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, việc thực hiện các trách nhiệm pháp lý về Môi trường, an toàn vệ sinh lao động hầu như không thực hiện. Hầu hết các cơ sở sản xuất đều không có hệ thống thông gió, hút bụi, xử lý hơi khí độc trong nhà xưởng, ngay cả các cơ sở sản xuất sử dụng nhiều hoá chất, nhiều chất dễ cháy, dễ nổ (a xít, xút, cao su, xà phòng, đồ nhựa...); Không có hoặc thiếu bộ phận làm công tác ATVSLĐ; Không trang bị hoặc trang bị không đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân cho NLĐ; Việc tổ chức huấn luyện ATVSLĐ cho NLĐ mang tính sơ sài, hình thức, thậm chí nhiều nơi không tổ chức huấn luyện; Không có sổ sách theo dõi, thống kê đầy đủ tình hình tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và thực hiện không nghiêm túc chế độ khai báo khi xảy ra tai nạn lao động với các cơ quan chức năng; …
Công tác quản lý an toàn vệ sinh lao động các cấp đối với khu vực này gần như đang bị bỏ ngỏ: rất ít các cuộc thanh kiểm tra việc tuân thủ luật pháp về lĩnh vực an toàn vệ sinh lao đông, kiểm tra việc sử dụng các thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn tại các hộ gia đình/doanh nghiệp.
Để đáp ứng được mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, giảm thiểu ô nhiễm Môi trường, đảm bảo sức khỏe cho người lao động cũng như cộng đồng dân cư đồng thời tăng cường sự tham gia của các cấp chính quyền, người dân trong công tác xã hội hóa an toàn vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường, các cơ quan quản lý Nhà nước các cấp cần khuyến khích triển khai áp dụng Mô hình quản lý An toàn vệ sinh lao động tại khu vực làng nghề theo phân cấp.
Điều kiện thực hiện
- Nhận thức của các bên liên quan (cơ quan quản lý địa phương, doanh nghiệp/cơ sở sản xuất, cộng đồng dân cư làng nghề) về vấn đề an toàn vệ sinh lao động đúng tầm quan trọng và có ý thức cải thiện;
- Sự sẵn sàng tham gia của các cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất và sự ủng hộ của cộng đồng dân cư;
- Hỗ trợ kỹ thuật, tài chính trong quá trình áp dụng;
- Cam kết thực hiện nghiêm túc của các doanh nghiệp/hộ gia đình thử nghiệm quy trình và ban quản lý cụm công nghiệp, UBND xã/phường.
Quy trình thực hiện
Bước 1. Chuẩn bị
Bước 2. Hội thảo khởi động tại địa phương giới thiệu mô hình
Bước 3. Áp dụng Mô hình
1. Tổ chức bộ phận thực hiện
1.1. Mô hình quản lý ATVSLĐ có hộ gia đình/doanh nghiệp nằm rải rác xen cư:
- Rà soát, bổ sung nhiệm vụ quản lý ATVSLĐ cho UBND cấp xã/phường theo các văn bản quy định hiện hành: Xây dựng các nội dung quản lý ATVSLĐ cho UBND.
- UBND xã phân công cán bộ phụ trách công tác ATVSLĐ.
- Phân công giao nhiệm vụ cho lãnh đạo các thôn ấp.
- Các trưởng thôn/ấp triển khai nội dung về công tác an toàn vệ sinh lao động đến các tổ trưởng tổ tự quản trong thôn/ấp.
- Các tổ trưởng tổ tự quản triển khai đến các hộ trong dân.
1.2. Mô hình quản lý ATVSLĐ có Cụm Công nghiệp làng nghề trực thuộc UBND xã/phường:
- Rà soát, bổ sung nhiệm vụ quản lý ATVSLĐ cho Ban quản lý cụm công nghiệp theo các văn bản quy định hiện hành: Xây dựng các nội dung quản lý ATVSLĐ cho UBND.
- Ban quản lý phân công cán bộ phụ trách công tác ATVSLĐ.
- Xây dựng hợp tác giữa Ban quản lý- các ban ngành đoàn thể- Quản lý cấp thôn/ấp.
2. Hướng dẫn xây dựng và trình ban hành văn bản quản lý ATVSLĐ tuân thủ hệ thống luật pháp hiện hành.
3. Hướng dẫn xây dựng kế hoạch hành động: xác định theo mức độ ưu tiên theo các nguy cơ mất an toàn, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và nguy cơ ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng dân cư.
4. Hướng dẫn triển khai hoạt động
- Hoạt động tập huấn, đào tạo;
- Hoạt động kiểm tra (kế hoạch, nội dung, phương pháp...);
- Hoạt động hỗ trợ : xây dựng mô hình quản lý ATVSLĐ phù hợp với DN/ cơ sở hộ gia đình, triển khai áp dụng;
- Xây dựng hệ thống báo cáo (mẫu biểu báo cáo, cơ chế báo cáo...).
Bước 4. Giám sát quá trình áp dụng
- Cung cấp công cụ áp dụng.
- Xây dựng các hệ thống mẫu biểu theo dõi quá trình áp dụng.
Bước 5. Đánh giá kết quả áp dụng
rách nhiệm xã hội ngày nay là một vấn đề mang tính toàn cầu và hiện đã và đang là một phần của “luật chơi” trong nền kinh tế thế giới. Cùng với việc trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam buộc phải chấp nhận các “luật chơi” của thế giới, trong đó, việc đẩy mạnh thực hiện trách nhiệm xã hội là một trong những vấn đề buộc phải làm không phải chỉ trên bình diện doanh nghiệp, mà còn ở trên bình diện ngành, địa phương và quốc gia.
Gia nhập WTO, Việt Nam phải thực hiện 6 hiệp định chính, trong đó có Hiệp định Hàng rào kỹ thuật thương mại (bao gồm tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội TNXH). Trên thế giới, các sản phẩm được tiêu chuẩn hóa không chỉ về chất lượng mà còn cả về khía cạnh xã hội. Một số sản phẩm được xuất khẩu ra thị trường quốc tế cần đảm bảo các tiêu chuẩn do phía đối tác yêu cầu như môi trường (ISO 14000), các bộ quy tắc ứng xử (COCs) của các nhà nhập khẩu, các tổ chức độc lập quy định các vấn đề về lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, chống phân biệt đối xử, môi trường và an toàn sức khỏe nghề nghiệp…).
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập, các tiêu chuẩn TNXH đang trở thành một trong những điều kiện trong buôn bán thương mại. Đối với các doanh nghiệp, đó là các luật chơi mới, buộc phải tham gia và nếu chấp nhận cuộc chơi có khả năng đi xa hơn. Trong "cuộc chơi này", họ cần phải nỗ lực đầu tư, nỗ lực cải tiến, nỗ lực chứng minh, các tiêu chuẩn lao động và môi trường.
Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (TNXHDN): Là sự tự nguyện của doanh nghiệp cam kết thực hiện tốt các vấn đề về lao động, môi trường và hoạt động kinh doanh trên cơ sở tuân thủ các luật pháp quốc gia, thông lệ quốc tế và đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên đồng thời góp phần phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia một cách bền vững.
Như vậy TNXHDN bao gồm 4 trách nhiệm chính: trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm đạo đức và đóng góp cộng đồng
Trách nhiệm kinh tế thể hiện qua hiệu quả tăng trưởng, mục tiêu thành lập doanh nghiệp là lợi nhuận nhưng không phải giành được bằng mọi cách. Mọi trách nhiệm khác đều phải dựa trên trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp; Trách nhiệm pháp lý: mọi doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động phải tuân thủ luật pháp; Nhà nước có trách nhiệm luật hóa các quy tắc xã hội, đạo đức vào văn bản luật, để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ đó một cách công bằng và đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi ở họ. Trách nhiệm kinh tế và pháp lý là hai bộ phận cơ bản, không thể thiếu của TNXHDN.Trách nhiệm về đạo đức: là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được luật hóa vào văn bản luật. Đó là văn hóa doanh nghiệp, các hành vi ứng xử với người lao động, với các bên liên quan như nhà đầu tư, đối tác, người tiêu dùng... hợp đạo đức được xã hội chấp nhận;Trách nhiệm đóng góp cộng đồng không chỉ là những hoạt động mang tính từ thiện mà đòi hỏi có những hoạt động góp phần giảm nghèo, tăng quyền, phát triển nguồn nhân lực...
Trong thời gian trước, TNXHDN được hiểu là các hoạt động cộng đồng mang tính chất từ thiện hoặc sự thực hiện thụ động của các doanh nghiệp xuất khẩu bằng việc tuân thủ các yêu cầu do các công ty nhập khẩu đưa ra thông qua các bộ quy tắc ứng xử (CoC).
Hiện nay doanh nghiệp và các tổ chức liên quan đang thúc đẩy quá trình thực hiện TNXHDN nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững
Hoạt động của các cơ quan chính phủ: Thực hiện các chương trình, dự án quốc gia nhằm thúc đẩy quá trình thực hiện TNXHDN một cách toàn diện.
Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam: Chính phủ Việt Nam đã tái khẳng định cam kết với quốc tế về phát triển bền vững đó là: "Kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.
Chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân: Giảm các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng; phát hiện sớm, khống chế kịp thời dịch bệnh, giảm tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh, tật; góp phần phát triển thể chất, tinh thần, nâng cao tuổi thọ, nâng cao chất lượng cuộc sống và cải thiện chất lượng giống nòi.
Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia: ngăn chặn về cơ bản mức độ gia tăng ô nhiễm, phục hồi suy thoái và nâng cáo chất lượng môi trường, bảo đảm cho mọi người dân đều được sống trong môi trường có chất lượng tốt về không khí, đất, nước, cảnh quan và các nhân tố môi trường đạt chuẩn mực do nhà nước qui định.
Chương trình Quốc gia an toàn- vệ sinh lao động: đảm bảo an toàn cho người lao động. Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, giảm ô nhiễm môi trường lao động; ngăn chặn tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ người lao động; nâng cao nhận thức và sự tuân thủ pháp luật về bảo hộ lao động, bảo đảm an toàn tính mạng và hạnh phúc cho người lao động, tài sản của Nhà nước, của công dân. Chương trình được thực hiện trên phạm vi cả nước tập trung hỗ trợ nhiều cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, khu vực nông nghiệp và các khu vực có nguy cơ cao về mất an toàn.
Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm: bảo đảm quyền được làm việc của người lao động .Góp phần thực hiện mục tiêu chung của nền kinh tế về bảo đảm việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị xuống dưới 5% vào năm 2010.
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu:
Chương trình được thực hiện theo nguyên tắc phát triển bền vững, đảm bảo tính hệ thống, tổng hợp, liên ngành, liên vùng, bình đẳng về giới, xóa đói giảm nghèo. Góp phần cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất, giảm nhẹ biến đổi khí hậu, giảm nhẹ các tác hại của biến đổi khí hậu.
Chương trình Mục tiêu Quốc gia nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng tổng hợp tài nguyên nước: Bảo đảm nhu cầu phát triển kinh tế xã hội bền vững, với kinh phí dự kiến khoảng 6.000 tỷ đồng, Chương trình được thực hiện từ 2010-2020 trên phạm vi cả nước nhằm bảo đảm an ninh về nguồn nước sử dụng cho trước mắt và lâu dài, quản lý, khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước một cách tổng hợp, toàn diện, bền vững và hiệu quả cao nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Về lĩnh vực lao động đã phê chuẩn 17 công ước quốc tế về vấn đề lao động, trẻ em, bình đẳng giới, an toàn vệ sinh lao động...Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động và thể chể hoá các điều khoản của luật lao động; tăng cường đối thoại với các doanh nghiệp để hoàn thiện luật pháp lao động phù hợp với thông lệ quốc tế trong bối cảnh hội nhập;
Thực hiện các dự án "Tăng cường sự tham gia của chính phủ các nước đang phát triển trong quá trình thúc đẩy thực hiện TNXHDN" Hỗ trợ kỹ thuật bởi Ngân hàng Thế giới, là đối tác thực hiện dự án "Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ thích ứng và áp dụng TNXHDN nhằm cải tiến chuỗi liên kết toàn cầu trong sản xuất bền vững" - UNIDO- Euro cham; Xây dựng chiến lược việc làm đàng hoàng ( decent work) – ILO; Điều phối ASEAN - Xây dựng hồ sơ quốc gia về ATVSLĐ và chương trình mục tiêu quốc gia; Thực hiện các dự án hỗ trợ thành phần kinh tế tư nhân phát triển có lồng ghép chương trình TNXHDN- Đan Mạch, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Đức...Tham gia các diễn đàn quốc tế - khu vực về TNXHDN;
Hoạt động của tổ chức đại diện giới chủ: Tiến hành các chương trình hội thảo, hội nghị bàn tròn, đào tạo về các nội dung liên quan đến TNXHDN, triển khai ứng dụng các mô hình áp dụng hiệu quả tại một số nhà máy…đặc biệt chương trình hợp tác với Tổ chức phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) về Mạng lưới hiệp ước toàn cầu Việt Nam (GCNV) với mục tiêu phát triển doanh nghiệp bến vững – xã hội phồn vinh sẽ thúc đẩy nhanh quá trình thực hiện TNXHDN ở Việt Nam đồng thời nội dung về TNXHDN cũng được mở rộng hơn. Dự án này thúc đẩy vai trò của cộng đồng doanh nghiệp trong việc nâng cao trách nhiệm xã hội thông qua mạng lưới Hiệp ước toàn cầu, được thành lập năm 2008 tại Việt Nam đồng thời TNXHDN sẽ được đưa vào Việt Nam thông qua các công trình nghiên cứu, chương trình giảng dậy và hỗ trợ, đánh giá các hoạt động kinh doanh và cung cấp các công cụ hữu ích như khả năng tiếp cận với các chuyên gia, kết nối với các mạng lưới quốc gia cũng như quốc tế, nhằm giúp doanh nghiệp phát triển chiến lược TNXHDN của mình.
Hoạt động của tổ chức công đoàn: Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của Liên đoàn Lao động Đức đã triển khai dự án nâng cao nhận thức về TNXHDN cho cán bộ công đoàn các cấp bao gồm cả cán bộ công đoàn của doanh nghiệp. Thành lập hệ thống trung tâm hỗ trợ pháp luật cho người lao đông bao gồm 8 trung tâm, 23 văn phòng và trên 80 luật sư trong phạm vi cả nước.
Hoạt động của các tập đoàn bán buôn, bán lẻ (các nhà mua): Ngày càng yêu cầu cao hơn đối với hệ thống cung cấp sản phẩm (nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà thầu phô, cung ứng…) trong việc tuân thủ các yêu cầu về TNXHDN. Đồng thời cũng tiến hành nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp: tư vấn, đào tạo về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp; quảng bá các hình ảnh, mô hình áp dụng thành công trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp; hỗ trợ về tài chính; tuyên truyền nâng cao nhận thức nhằm đẩy mạnh sự tuân thủ thông qua việc cam kết thực hiện các bộ quy tắc ứng xử do các công ty/ tập đoàn đa quốc gia mua hàng đưa ra : Nike, Adidas, Timberland, Novi, BSCI …
Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ
Các tổ chức này một mặt gây sức ép cho doanh nghiệp nhưng mặt khác cũng hỗ trợ tích cực các doanh nghiệp trong thực hiện trách nhiệm xã hội thông qua các hoạt động: Chia sẻ thông tin và kinh nghiệm trong nước và quốc tế trong thực hiện trách nhiệm xã hội doanh nghiệp; tư vấn, đào tạo về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp; quảng bá các hình ảnh, mô hình áp dụng thành công trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp; hỗ trợ về tài chính; tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng đối với trách nhiệm xã hội doanh nghiệp. Việt Nam có website và diễn đàn về CSR. Mạng lưới doanh nghiệp xã hội ngày càng phát triển qua sự hỗ trợ kỹ thuật tài chính của các tổ chức phi chính phủ quốc tế tại Việt Nam như DED, SNV, PACT...
Các tổ chức phi chính phủ của Việt Nam cũng hỗ trợ tích cực quá trình thực hiện CSR cho các doanh nghiệp thông qua các hội thảo, đào tạo, tư vấn và các dự án nhỏ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ chú trọng nhiều trong khu vực làng nghề như CDI, CECODES, SRD, CSIP...
Hoạt động của các công ty tư vấn cấp chứng chỉ.
Các công ty hoạt động trên các khía cạnh như tư vấn xây dựng hệ thống quản trị CSR, lập hệ thống báo cáo GRI, đào tạo về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp; quảng bá các hình ảnh, mô hình áp dụng thành công trách nhiệm xã hội trong doanh nghiệp; Tiến hành đánh giá cấp chứng chỉ ISO, SA8000 cho các doanh nghiệp. Một số công ty điển hình như: Tuv.nord, Tuv Rheinland Group, ITS, BVQI, Globalstandard, Win-Win...
Hoạt động của các tổ chức hiệp hôi ngành nghề và người tiêu dùng
Phối hợp với chính phủ, các bên liên quan khác xây dựng thực hiện các dự án, tổ chức các hội thảo, các khóa đào tạo, các giải thưởng nhằm thúc đẩy, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện CSR ( Hiệp hội da giaiy, hiệp hội Dệt may, Điện tử, Nhựa, Gỗ, Làng nghề...)
Hoạt động của giới truyền thông:
Phương tiện truyền hình, phát thanh, báo giới (báo viết, báo điện tử) phản ánh kịp thời chính xác các gương tốt về doanh nghiệp trong việc thực hiện tốt CSR đồng thời cũng lên án phê phán các doanh nghiệp ứng xử không có đạo đức, trách nhiệm đối với người lao động và cộng đồng.
Quá trình thực hiện TNXHDN của cộng đồng doanh nghiệp
Quá trình thực hiện TNXHDN Việt Nam thay đổi từng bước cả về nội dung lẫn hình thức thực hiện.
Thể hiện đạo đức doanh nghiệp đối với cộng đồng: hoạt động mang tính từ thiện. Đây là một hoạt động truyền thống, các doanh nghiệp tích cực tham gia các hoạt động đóng góp như ủng hộ các vùng bị thiên tai, ủng hộ phong trào xoá đói giảm nghèo, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa với các đối tượng người có công, ủng hộ những nhóm người thiệt thòi như khuyết tật, nạn nhân chiến tranh và một số có đóng góp cho phát triển địa phương như các công trình giáo dục, y tế vui chơi cho trẻ em nghèo…
Thực hiện các bộ quy tắc ứng xử: chủ yếu các doanh nghiệp có liên quan đến xuất khẩu hàng hoá. Vấn đề TNXHDN được du nhập vào thông qua các tập đoàn bán buôn bán lẻ (các nhà nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam) bằng việc đưa ra các yêu cầu về tiêu chuẩn xã hội đối với các doanh nghiệp Việt Nam (nhà cung cấp hàng hóa). Các nội dung này được đưa ra dưới dạng các bộ quy tắc ứng xử (CoC) và tập trung chủ yếu các doanh nghiệp có xuất khẩu của Việt Nam trong các ngành: Dược phẩm, Dệt may, Da giày, Điện tử, Nhựa, Gỗ, Giấy, Thủy sản, Gốm sứ, đồ chơi... Nội dung của các bộ quy tắc ứng xử về cơ bản đều viện dẫn trên các điều luật của luật pháp quốc gia như luật lao động, luật doanh nghiệp, luật bảo vệ môi trường, luật công đoàn...Việc thực hiện các bộ quy tắc ứng xử không đòi hỏi phải lấy chứng chỉ. Hiện nay tiêu chuẩn ISO 26000 được coi là hướng dẫn thực hiện TNXH cho mọi tổ chức/ doanh nghiệp bao gồm 7 nội dung cơ bản:Thực thi chính sách lao động, chính sách môi trường, người tiêu dùng, điều hành doanh nghiệp, hoạt động ngay thẳng phòng chống tham nhũng, đảm bảo quyển con người và phát triển cộng đồng.
Thực hiện việc lấy chứng chỉ, tham gia các giải thưởng, các hình thức quảng bá doanh nghiệp…
Các doanh nghiệp VN tích cực cải thiện các hệ thống quản lý để có thể đạt được các chứng chỉ quản lý chất lượng, môi trường, an toàn vệ sinh lao động, an toàn thực phẩm, sản xuất an toàn...(ISO 9000, ISO 14000, OSHAS, ISO/IEC, HACCAP. GMP) và tham gia giải thưởng cúp vàng ISO.
Chính sách khuyến khích, khen thưởng của chính phủ, các tổ chức hiệp hội ngành nghề, các tổ chức quốc tế đã tạo nên hình ảnh các doanh nghiệp VN kinh doanh có đạo đức, có trách nhiệm với cộng đồng, xã hội hướng tới sự phồn vinh và phát triển bền vững. Các giải thưởng nhằm tôn vinh các doanh nghiệp Việt nam đó được thực hiện trong suốt 20 năm qua khi Việt Nam bước vào quá trình đổi mới.Hàng năm có khoảng 50 loại giải quốc gia trao cho hàng trăm doanh nghiệp, điều đó thể hiện cộng đồng doanh nghiệp luôn hướng đến các giá trị tốt đẹp mang tính bền vững và tiêu chuẩn hóa cao, góp phần nâng cao vị thế cạnh tranh cho thương hiệu quốc gia Việt Nam trên thương trường quốc tế.
Giải thưởng TNXHDN: Đây là giải thưởng được tổ chức hàng năm, bắt đầu được tổ chức ở Việt Nam từ năm 2005: giải thưởng được hàng trăm doanh nghiệp tham gia ở tất cả các ngành, các lĩnh vực các loại hình, các quy mô từ lớn đến nhỏ và vừa. Hội đồng xét thưởng gồm đại diện của ba bên. Giải thưởng được sự tham gia, tài trợ của các tổ chức quốc tế , các tập đoàn đa quốc gia, các tổ chức phi chính phủ quốc tế...Giải thưởng Tôn vinh và biểu dương các doanh nghiệp thực hiện tốt TNXHDN;
Thực hiện các hoạt động trách nhiệm xã hội lồng ghép trong các hoạt động kinh doanh.
Một số doanh nghiệp Việt Nam coi TNXHDN có chức năng như một cơ chế tự điều chỉnh, hợp nhất nhờ đó doanh nghiệp tự theo dõi và bảo đảm tuân thủ luật pháp, quy tắc đạo đức, và các tiêu chuẩn quốc tế. Cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tạo dựng lên các "sân chơi " nơi hội tụ của những doanh nghiệp tiêu biểu hàng đầu Việt Nam, là nơi những doanh nghiệp tâm huyết muốn tăng cường quan hệ hợp tác, liên kết, trao đổi kinh nghiệm giúp đỡ nhau trong hoạt động sản xuất – kinh doanh và các hoạt động xã hội khác vì sự phát triển của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam.
Những thách thức khó khăn khi thực hiện TNXHDN ở Việt Nam
Mặc dù thấy rõ lợi ích cũng như những yêu cầu phải thực hiện TNXHDN, nhưng đối với Việt Nam, vấn đề này vừa là cơ hội, vừa là thách thức và thậm chí là rào cản.
Thách thức thứ nhất là quy mô doanh nghiệp:Trên 95% DN Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nên khả năng thực hiện khác nhau ở mỗi loại doanh nghiệp;
Thách thức thứ hai làThiếu thông tin, vai trò định hướng dẫn dắt TNXHDN chưa rõ ràng nên vấn đề nhận thức và hiểu biết, tiếp cận và áp dụng chưa đầy đủ; Đây là nguyên nhân dẫn đến việc còn nhiều cách hiểu, cách làm khác nhau gây lãng phí thậm chí làm sai lệch đi ý nghĩa của TNXHDN như có Doanh nghiệp đóng góp 1 tỷ đồng cho từ thiện nhưng lại gây ô nhiễm phá hoại môi trường nhiều tỷ đồng hoặc thường xuyên xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và cộng đồng;
Thách thức thứ ba nội dung của bộ quy tắc ứng xử là cơ bản phù hợp với luật pháp quốc gia tuy nhiên trong quá trình thực hiện gặp một số vấn đề bất cập giữa nội dung của các bộ quy tắc ứng xử và các quy định của luật pháp quốc gia; Hệ thống văn bản luật pháp đã bộc lộ một số điểm cần sửa đổi như còn chồng chéo, chưa bám sát thực tiễn đồng thời hiệu quả thực thi luật pháp chưa cao. Để thực hiện được Bộ luật còn phải ban hành hàng trăm văn bản hướng dẫn nên còn xuất hiện sự chưa đồng bộ giữa các quy định Bộ luật và các văn bản hướng dẫn cả về nội dung và thời gian thực hiện gây lúng túng cho việc tổ chức thực hiện. Một số văn bản được hướng dẫn chậm nên thiếu đồng bộ; một số nội dung của văn bản hướng dẫn còn chồng chéo, mâu thuẫn với quy định của Bộ luật, gây khó khăn trong quá trình thực hiện.Các quy định về chế tài xử phạt vi phạm về pháp luật lao động còn ở mức thấp, chưa làm cho các đối tượng tuân thủ triệt để. Điển hình như việc tham gia bảo hiểm xã hội Tình trạng nợ đọng bảo hiểm xã hội còn diễn ra nhiều với mức nợ đọng cao, kéo dài. Tại thành phố Hồ Chí Minh, có 53 doanh nghiệp nợ đọng bảo hiểm xã hội kéo dài với mức 45 tỷ đồng, 776 doanh nghiệp nợ bảo hiểm xã hội trên 12 tháng với mức 67,084 tỷ đồng. Chế tài xử phạt vi phạm về BHXH thấp, dẫn đến việc chấp hành pháp luật BHXH không nghiêm. [1]
Thách thức thứ tư là thức cộng đồng và ý thức bảo vệ quyền lợi của người dân còn hạn chế vì thế một số doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng thiếu sự giám sát, lên tiếng của người dân đã kéo dài nhiều năm như Vê dan, lợi nhuận của người nông dân thấp trong chuỗi giá trị, xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng...
Thách thức thứ năm là Vấn đề đối thoại xã hội, tính minh bạch công khai, trách nhiệm giải trình còn thấp: các doanh nghiệp có xu hướng “đối phó” bằng các hệ thống báo cáo, sổ sách “kép” trong khi đó cơ chế kiểm tra giám sát việc tuân thủ TNXHDN rất chặt chẽ và yêu cầu minh bạch công khai cao. Đây thực sự là thách thức lớn đối với doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ về trách nhiệm giải trình cũng như năng lực tự kiểm tra giám sát hoạt động cho tính “sẵn sàng” công khai trong khi thực hiện TNXHDN.
Thách thức thứ sáu vai trò của Hiệp hội ngành nghề, tổ chức công đoàn, giới truyền thông, người lao động còn hạn chế trong việc thực hiện TNXHDN
Kiến nghị các giải pháp
Một là nâng cao chất lượng các quy định pháp luật và tăng cường trách nhiệm thực thi luật pháp;
Hai là tập trung hoàn thiện luật và tính hiệu lực trong việc thực thi luật. Các trách nhiệm ngoài luật (đạo đức, từ thiện), cơ chế tự nguyện cần được khuyến khích vì đó là sự tương tác giữa doanh nghiệp và xã hội. Nhà nước chỉ nên gián tiếp tác động thông qua các cơ chế như NGOs, hiệp hội, mạng lưới cộng đồng, giáo dục, nâng cao ý thức người lao động, người tiêu dùng;
Ba là thực hiện các chương trình truyền thông, giáo dục đào tạo về TNXH vào trong hệ thống giáo dục đào tạo, hệ thống dạy nghề;
Bốn là nâng cao nhận thức và tăng cường năng lực cho doanh nghiệp và các đối tác liên quan.Cần thường xuyên cung cấp thông tin, kiến thức về pháp luật, các tiêu chuẩn tại doanh nghiệp và đặc biệt cần tuyên truyền phổ biến cho người lao động biết các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình tại nơi làm việc.Cần gia tăng nhận thức vấn đề, kiến thức và chuyên môn vào tính quan trọng của việc thực hiện trách nhiệm xã hội cho các đối tác có liên quan; nâng cao hệ thống quản lý để tuân theo các quy tắc ứng xử và các quy định pháp luật.Tổ chức những diễn đàn để trao đổi thông tin, kiến thức, kinh nghiệm và hiệu quả của việc thực hiện trách nhiệm xã hội với sự tham gia của nhiều tập đoàn, công ty lớn, các đơn vị giám sát độc lập, các tổ chức phi chính phủ nhằm mục đích tiêu chuẩn hoá những quy tắc giúp nâng cao cơ hội chia sẻ, học hỏi giữa các đối tượng với nhau;
Năm là Tạo điều kiện tiếp cận và tra cứu văn bản pháp lý dễ dàng, văn bản pháp luật được cập nhật thường xuyên,hướng dẫn phương pháp xử lý khi có các xung đột giữa các quy tắc ứng xử;
Khuyến khích những sáng tạo và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội. Tạo cơ chế và các biện pháp khen thưởng thích đáng cho những doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội (có thể bằng vật chất như giảm thuế hoặc tinh thần như giới thiệu khách hàng, đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng, trao tặng danh hiệu...).Bằng những phương tiện truyền thông đại chúng, tuyên truyền cho mọi doanh nghiệp và người lao động hiểu thống nhất về khái niệm và các nội dung của TNXHDN. Phát triển một bộ phận các doanh nghiệp thực hiện tốt bộ quy tắc ứng xử về trách nhiệm xã hội tạo đà cho các doanh nghiệp khác thực hiện tiến tới việc thực hiện một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực tạo điều kiện cho việc thực thi pháp luật ngày càng tốt hơn. Có cơ chế hỗ trợ về tài chính khi cần thiết cho các doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình thực hiện trách nhiệm xã hội;
Sáu là Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật để có những biện pháp xử lý kịp thời khi các doanh nghiệp vi phạm giúp cho việc thực thi pháp luật được tốt hơn, bảo đảm một môi trường cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp.Củng cố các khâu yếu trong hệ thống thực thi và soát xét các biện pháp chế tài một cách xác đáng để đảm bảo hiệu lực của luật pháp.Xây dựng cơ chế chuẩn hóa, giám sát phối hợp giữa đội ngũ thanh tra và đội ngũ các chuyên gia đánh giá của các TNC, công ty đánh giá cấp chứng chỉ.