VIETNAM SOCIAL WORK NETWORK

The backup of http://vnsocialwork.net

  • Home
  • TIN TỨC

Nguồn ảnh: agro.gov.vnNgày 10.5, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 673/QĐ- TTg “Về việc Hội NDVN trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn giai đoạn 2011-2020” .

Điều 1. Ban hành cơ chế, chính sách để Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 201 I - 2020 như sau:

1. Quan điểm:

Tạo điều kiện để Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp thực hiện và phối hợp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội nông thôn giai đoạn 201 1 - 2020 là nhằm phát huy hơn nữa vai trò trung tâm và nòng cốt của Hội Nông dân Việt Nam trong phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới, góp phần phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện đại, bền vững, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

- Bảo đảm nguồn lực tài chính và những điều kiện cần thiết để Hội Nông dân Việt Nam trực tiếp và phối hợp hỗ trợ nông dân phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá tinh thần.

2. Mục tiêu:

Ban hành các cơ chế, chính sách thích hợp để Hội Nông dân Việt Nam thực hiện được vai trò trung tâm và nòng cốt trong phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới, là thành viên tích cực của các chương trình về kinh tế- xã hội nông thôn, tham gia vào việc hoạch định các kế hoạch phát triền kinh tế- xã hội ở nông thôn.

- Nâng cao trách nhiệm của các bộ, ngành, các cơ quan liên quan tạo điều kiện và phát huy vai trò của Hội Nông dân Việt Nam tham gia quá trình xây dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách, các chương trình, đề án liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

3. Hội Nông dân Việt Nam chủ trì, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:

a) Đầu tư nâng cấp và xây dựng mới các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh và chuyển thành đơn vị sự nghiệp để trực tiếp tổ chức các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ và dạy nghề cho nông dân; làm đầu mối tham gia với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTG ngày 27.11. 2009 của Thủ tướng Chính phủ.

- Nâng cấp, bổ sung trang thiết bị của 19 Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân đã có thuộc các tỉnh, thành Hội; đầu tư xây dựng mới các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc các tỉnh, thành Hội còn lại (mỗi năm đầu tư xây mới 4-5 Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân cấp tỉnh).

- Tổ chức các lớp bồi dưỡng, đào tạo nghề nông (trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản...) theo tiêu chuẩn học nghề ngắn hạn (trình độ sơ cấp, dạy nghề dưới 3 tháng hoặc dạy nghề tại chỗ theo hình thức "cầm tay chỉ việc") cho các đối tượng là hội viên, nông dân trực tiếp làm nông nghiệp.

- Tham gia dạy nghề, liên kết dạy nghề và phối hợp đào tạo liên thông giữa các trình độ nghề cho lao động nông thôn, góp phần đáp ứng nhu cầu thị trường lao động.

- Cơ quan phối hợp: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan.

- Kinh phí thực hiện: Do ngân sách nhà nước cấp cho Hội Nông dân Việt Nam thực hiện.

b) Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân Việt Nam với các nội dung sau:

- Trên cơ sở tổ chức và hoạt động đã có, đổi mới Quỹ Hỗ trợ nông dân thành tổ chức trực thuộc hệ thống Hội Nông dân Việt Nam, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có tư cách pháp nhân, có điều lệ hoạt động, có con dấu và tài khoản riêng.

- Năm 2011, ngân sách trung ương hỗ trợ cho Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Trung ương Hội Nông dân Việt Nam 300 tỷ đồng (Ba trăm tỷ đồng); từ năm 2012 - 2020, mỗi năm căn cứ vào tình hình cụ thể, ngân sách trung ương hỗ trợ thêm để tăng nguồn Quỹ hỗ trợ nông dân.

- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo việc thành lập quỹ; hằng năm hỗ trợ ngân sách địa phương cho Quỹ Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân các cấp.

- Trung ương Hội Nông dân Việt Nam ban hành Điều lệ tổ chức và hoạt động của Quỹ Hỗ trợ nông dân phù hợp với các quy định hiện hành; trực tiếp quản lý, bảo toàn nguồn vốn; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về các hoạt động và hiệu quả hoạt động của Quỹ.

- Cơ quan phối hợp quản lý: Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan liên quan.

4. Hội Nông dân Việt Nam phối hợp với các Bộ, ngành để thực hiện các chương trình, đề án trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghi quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn như sau:

a) Cơ chế tham gia:

- Tiếp tục thực hiện cơ chế hiện hành đối với Hội Nông dân Việt Nam theo Quyết định số 17/1998/QĐ-TTg ngày 24.1.1998 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy định trách nhiệm của các bộ, các cấp chính quyền trong việc tạo điều kiện để các cấp Hội Nông dân Việt Nam hoạt động có hiệu quả.

- Hàng năm, trong từng chương trình, đề án, dự án của Chính phủ và địa phương liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn; các bộ, ngành, uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thoả thuận với Hội Nông dân Việt Nam cùng cấp xác định những nhiệm vụ cụ thể để phân bổ và trích lập dự toán giao cho Hội Nông dân Việt Nam cùng cấp thực hiện; báo cáo cơ quan chức năng bố trí vào dự toán ngân sách hàng năm của Hội Nông dân.

- Các Bộ chủ trì các chương trình, đề án nêu tại điểm b khoản 4 Điều này có trách nhiệm phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam trích lập dự toán kinh phí chi tiết tương ứng với phần nhiệm vụ Hội Nông dân Việt Nam được giao thực hiện, báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư để ghi vào danh mục đầu tư và phân bổ kinh phí hằng năm giao Hội Nông dân Việt Nam thực hiện; đồng thời báo cáo Bộ Tài chính và các cơ quan chức năng của Chính phủ xem xét, bố trí vào dự toán ngân sách hàng năm của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.

b) Hội Nông dân Việt Nam phối hợp với các Bộ, ngành sau để thực hiện các nhiệm vụ liên quan như sau:

- Tham gia với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTG ngày 27.11.2009 của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng và nhân rộng một số mô hình giảm nghèo bền vững vùng đặc biệt khó khăn.

- Tham gia với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện các hoạt động khuyến nông bằng nguồn ngân sách nhà nước; hướng dẫn và phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn; xây dựng và nhân rộng mô hình kinh tế hợp tác sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ nông sản. Tham gia với Bộ Công Thương thực hiện chính sách của Chính phủ về tiêu thụ nông sản hàng hoá cho nông dân.

- Tham gia với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường nông thôn; nâng cao năng lực thích ứng cho nông dân đối với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.

- Tham gia với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, hội viên và nông dân về văn hoá và nhiệm vụ phát triển văn hoá nông thôn. Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hoá, mô hình thôn, ấp, bản, làng văn hoá; xây dựng và duy trì các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể thao quần chúng; vận động và hướng dẫn nông dân tham gia thường xuyên các hoạt động văn hóa, thể thao.

- Tham gia với Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức các hoạt động truyền thông ứng dụng công nghệ thông tin cho nông dân.

5. Kinh phí thực hiện: Từ nguồn kinh phí sự nghiệp hàng năm và từ nguồn kinh phí thực hiện các chương trình, đề án trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Đối với các chương trình nhiệm vụ của Nhà nước giao cho các cấp Hội Nông dân Việt Nam chủ trì: Kinh phí được giao trực tiếp trong dự toán ngân sách hằng năm cho các cấp Hội Nông dân Việt Nam thực hiện theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành.

Đối với các chương trình, nhiệm vụ của Nhà nước giao cho các bộ, ngành. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chủ trì: Các bộ, ngành, uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố có trách nhiệm thoả thuận với Hội Nông dân Việt Nam cùng cấp trích lập dự toán tương ứng với phần nhiệm vụ giao cho Hội Nông dân thực hiện.

Điều 2. Tổ chức thực hiện:

1. Hội Nông dân Việt Nam chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành các cơ quan liên quan. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và chỉ đạo các cấp Hội nông dân ở các địa phương phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan để triển khai thực hiện Quyết định này; xây dựng các dự án cụ thể theo nhiệm vụ tại khoản 3 Điều 1 của Quyết định này trình các cấp có thẩm quyền thẩm định, Phê duyệt theo quy định để tổ chức thực hiện; báo cáo Thủ tướng Chính phủ các vấn đề phát sinh trong tổ chức thực hiện và kiến nghị về những thay đổi, điều chỉnh cần thiết phù hợp với từng thời kỳ.

2. Trách nhiệm của các Bộ, ngành, chính quyền địa phương:

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn bố trí kinh phí hàng năm cho Hội Nông dân Việt Nam tổ chức các hoạt động hướng dẫn và phát triển các hình thức kinh phí tập thể trong nông nghiệp, nông thôn; xây dựng và nhân rộng mô hình kinh tế hợp tác trong sản xuất nông nghiệp và tiêu thụ nông sản bằng nguồn kinh phí sự nghiệp kinh tế và kinh phí thực hiện Đề án phát triển mô hình liên kết sản xuất giữa hộ nông dân với các thành phần kinh tế ở nông thôn. Hằng năm, phân bổ một phần từ nguồn kinh phí khuyến nông Trung ương giao Hội Nông dân Việt Nam thực hiện.

- Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch tạo điều kiện để Hội Nông dân Việt Nam tham gia thực hiện Đề án phát triển văn hóa nông thôn theo đề xuất của Hội Nông dân Việt Nam.

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hàng năm phân bổ chỉ tiêu dạy nghề cho Hội Nông dân Việt Nam thực hiện theo Quyết định số 1956/QĐ - TTg ngày 27.11.2009 của Thủ tướng Chính phủ; chủ trì, phối hợp với Hội Nông dân Việt Nam, Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn việc quy hoạch để xây dựng các Trung tâm dạy nghề và Hỗ trợ nông dân thuộc Hội Nông dân cấp tỉnh.

- Bộ Công Thương tạo điều kiện cho Hội Nông dân Việt Nam xây dựng và thực hiện một số dự án về mô hình tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư nông nghiệp trong Đề án Phát triển thương mại nông thôn do Bộ chủ trì.

- Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn Hội Nông dân Việt Nam xây dựng dự toán chi sự nghiệp môi trường hàng năm để tham gia thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường nông thôn và Chương trình mục tiêu quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, phù hợp với khả năng của Hội.

- Bộ Thông tin và Truyền thông: Hướng dẫn Hội Nông dân Việt Nam tham gia các hoạt động truyền thông và các hoạt động trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ liên quan đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Giúp Hội Nông dân Việt Nam đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực, nghiệp vụ truyền thông cho cán bộ của Hội. Hàng năm, bố trí một phần kinh phí sự nghiệp kinh tế do Bộ quản lý để Hội Nông dân Việt Nam tổ chức các hoạt động truyền thông, ứng dụng công nghệ thông tin cho nông dân.

- Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Hàng năm phối hợp với các Bộ, ngành liên quan cân đối ngân sách và các nguồn tài trợ khác để phân bổ kinh phí giao Hội Nông dân Việt Nam chủ trì thực hiện hoặc phối hợp thực hiện một số nhiệm vụ trong các chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn; hướng dẫn việc hỗ trợ bổ sung ngân sách cho Quỹ hỗ trợ nông dân ở các cấp Hội Nông dân Việt Nam kể từ năm 2011; xây dựng cơ chế quản lý tài chính và giám sát việc thực hiện các cơ chế, chính sách báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo quy định.

- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, căn cứ nội dung triển khai thực hiện các chương trình, đề án trong Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, xác định những nội dung cụ thể và kinh phí kèm theo để giao cho Hội Nông dân cùng cấp thực hiện. Chỉ đạo các sở, ban, ngành xây dựng cơ chế phối hợp để Hội Nông dân cùng cấp trực tiếp thực hiện các chương trình, đề án, dự án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống nông dân. Chỉ đạo việc cấp một phần kinh phí khuyến nông cho các cấp hội nông dân thực hiện; thành lập và hỗ trợ vốn cho Quỹ Hỗ trợ nông dân ở địa phương; xây dựng các Trung tâm Dạy nghề và Hỗ trợ nông dân trực thuộc Hội Nông dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

Điều 4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
[caption id="attachment_1912" align="alignleft" width="300" caption="Nguồn ảnh: http://bannhanong.vn"][/caption]

VNSW xin giới thiệu bài viết "Bước ngoặt mới trong nỗ lực xóa đói, giảm nghèo" của  Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân. Bài viết được đăng trên Tạp chí Cộng sản.

Xóa đói, giảm nghèo ở nước ta vẫn đang là vấn đề bức xúc được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Xóa đói, giảm nghèo toàn diện, bền vững là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và là một trong những nhiệm vụ quan trọng, góp phần thực hiện phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 2006 - 2010 tạo bước ngoặt mới trong xóa đói, giảm nghèo ở nước ta và là nền tảng cho chúng ta thực hiện những giải pháp xóa đói, giảm nghèo cho giai đoạn 2011 - 2020.

Năm 2010 - bước ngoặt mới trong xóa đói, giảm nghèo ở nước ta

Từ năm 1986 đến nay, công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã đạt được những thành tựu quan trọng: đất nước đã thoát ra khỏi khủng hoảng, kinh tế tăng trưởng nhanh, đời sống người dân được cải thiện rõ nét. Tuy nhiên, vấn đề phân hóa giàu nghèo nổi lên giữa các vùng, các nhóm dân cư, đặc biệt là khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc, đời sống người dân còn hết sức khó khăn.

Để giải quyết mối quan hệ hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, nhằm bảo đảm phát triển bền vững, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn từ phong trào xóa đói, giảm nghèo của cả nước giai đoạn 1992 - 1997, từ năm 1998 đến nay, xóa đói, giảm nghèo đã trở thành chương trình mục tiêu quốc gia và được đưa vào kế hoạch định kỳ 5 năm của Chính phủ và các địa phương, đến nay đã qua 3 giai đoạn (1998 - 2000; 2001 - 2005; 2006 - 2010).

Giải quyết vấn đề nghèo đói cũng là thể hiện mạnh mẽ cam kết của Đảng, Nhà nước Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. Chính phủ Việt Nam đã tập trung chỉ đạo, ưu tiên nguồn lực thực hiện tốt mục tiêu xóa đói, giảm nghèo. Mỗi giai đoạn tuy có những nội dung, giải pháp khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu chung là nâng cao mức sống của người dân, giảm nhanh tỷ lệ hộ sống dưới ngưỡng nghèo.

Theo Báo cáo Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ năm 2010, Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và cho thấy dấu hiệu khả quan của việc hoàn thành các mục tiêu vào năm 2015. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân hằng năm trong thời kỳ 2001 - 2010 đạt 7,2%, GDP bình quân đầu người năm 2010 khoảng 1.160 USD.

Cùng với tăng trưởng và phát triển kinh tế, Việt Nam đặc biệt quan tâm và ưu tiên nguồn lực cho giảm nghèo. Với việc giảm 1/2 hộ nghèo vào năm 2002, và đến nay đã giảm được 3/4 số hộ nghèo (so với đầu thập niên 90 thế kỷ XX), hoàn thành trước mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo, Việt Nam chuyển vị trí từ nước nghèo sang nhóm nước có mức thu nhập trung bình thấp.

Những năm qua, nhờ thực hiện thành công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc, miền núi (Chương trình 135), Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo (Nghị quyết số 30a) và các chương trình kinh tế, xã hội khác hướng vào mục tiêu giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm nhanh từ 22% (năm 2005) xuống còn 11,3% (năm 2009) và còn 9,45% (năm 2010), bình quân mỗi năm giảm 2% - 3% tỷ lệ nghèo; người nghèo đã được tiếp cận tốt hơn các nguồn lực kinh tế (vốn, đất đai, công nghệ, thị trường...) và các dịch vụ xã hội cơ bản như: giáo dục, y tế, nước sạch, trợ giúp pháp lý...; kết cấu hạ tầng của các huyện, xã nghèo được tăng cường; đời sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt.

Kinh tế tăng trưởng nhanh và liên tục, với tốc độ từ 7% - 8%/năm là một yếu tố quan trọng trong việc giảm nghèo, nhưng điểm nổi bật ở Việt Nam khác với các nước khác là tăng trưởng nhanh nhưng cũng hạn chế được tốc độ gia tăng bất bình đẳng. Hệ số Gini, một chỉ số xem xét bất bình đẳng thu nhập, chỉ tăng từ 0,329 năm 1993 lên 0,356 năm 2008; độ sâu nghèo đói, tính bằng tỷ lệ người nghèo nằm gần ngưỡng nghèo đã giảm xuống. Chính vì vậy, thành tựu giảm nghèo của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận: “Những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những câu chuyện thành công nhất trong phát triển kinh tế”.

Những khó khăn, thử thách

Tuy tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh nhưng kết quả giảm nghèo chưa bền vững, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo rất lớn (70% - 80%), tỷ lệ hộ tái nghèo hằng năm so với tổng số hộ thoát nghèo còn cao (7% - 10%); chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, đặc biệt là ở những huyện, xã có tỷ lệ hộ nghèo cao.

Các chương trình giảm nghèo triển khai trong thời gian qua chưa toàn diện; nhiều chính sách, chương trình giảm nghèo đã được ban hành nhưng còn mang tính ngắn hạn, chồng chéo, chưa tạo sự gắn kết chặt chẽ và lồng ghép tập trung vào mục tiêu giảm nghèo; công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, vào cộng đồng vẫn còn phổ biến ở nhiều địa phương nên đã hạn chế phát huy nội lực và sự nỗ lực vươn lên.

Theo chuẩn nghèo mới dự kiến áp dụng từ năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước chiếm khoảng 15%- 17%, người nghèo tập trung phần lớn ở khu vực nông thôn chiếm khoảng 90%; một số huyện miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền núi Duyên hải miền Trung, Tây Nam Bộ là những nơi đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (trên 50%), là địa bàn rất khó khăn đối với công tác giảm nghèo.

Giải quyết vấn đề nghèo đói là nhiệm vụ khó khăn, lâu dài, bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân ta, để bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trong 10 năm tới, giảm nghèo bền vững là một trong những nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước, cũng như trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện của Chính phủ, chính quyền các cấp nhằm phát huy nội lực của toàn xã hội cũng như sự nỗ lực, vươn lên của người nghèo. Nhà nước tiếp tục tập trung ưu tiên cho những địa bàn khó khăn nhất (vùng miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Duyên hải miền Trung, Tây Nam Bộ) nhằm bảo đảm giảm nghèo nhanh và bền vững ở những vùng này so với cả nước.

Định hướng giảm nghèo nhanh và bền vững

Để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc giảm nghèo và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tốc độ gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, định hướng giảm nghèo thời kỳ 2011 - 2020 như sau:

Thứ nhất, các chính sách giảm nghèo thường xuyên sẽ được hệ thống lại, trên cơ sở rà soát, đánh giá lại toàn bộ các chính sách hiện hành do các bộ, ngành được giao trách nhiệm chủ trì tổ chức thực hiện, hướng vào đối tượng người nghèo, hộ nghèo. Trên cơ sở đó, Chính phủ sẽ ban hành nghị quyết về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011 - 2020, trong đó, bao gồm các chính sách hỗ trợ trực tiếp đối với hộ nghèo, người nghèo; chính sách đặc thù cho địa bàn khó khăn nhất.

Thứ hai, tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011 - 2015. Chính phủ sẽ tập trung ưu tiên nguồn lực đầu tư từ ngân sách trung ương để đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo ở các địa bàn đặc biệt khó khăn, trong đó tập trung vào các nội dung: tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng ở các địa bàn đặc biệt khó khăn; hỗ trợ sản xuất, tăng thu nhập cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số; xây dựng và nhân rộng mô hình giảm nghèo bền vững; nâng cao năng lực giảm nghèo và truyền thông; tăng cường hoạt động giám sát, đánh giá các chính sách giảm nghèo tác động đến đối tượng thụ hưởng. Trên cơ sở đó, các địa phương căn cứ cơ chế, chính sách giảm nghèo để huy động nguồn lực và bố trí ngân sách tại chỗ để đầu tư.

Thứ ba, thực hiện cơ chế phân cấp, trao quyền, hỗ trợ trọn gói có mục tiêu cho địa phương, đi đôi với nâng cao năng lực và tăng cường sự tham gia của người dân.

Thứ tư, phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 2%/năm theo chuẩn mới; riêng 62 huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn giảm bình quân 4%/năm. Tạo việc làm ổn định và đa dạng hoạt động thu nhập cho lao động nghèo; tăng thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo lên 3,5 lần và thu nhập bình quân đầu người của các huyện nghèo nhất tăng ít nhất 3 lần so với năm 2010. Bảo đảm các điều kiện thiết yếu về nhà ở, nước sinh hoạt, tiếp cận các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, đời sống văn hóa, tinh thần, tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí cho các hộ nghèo, đặc biệt hộ nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và dân sinh ở các huyện nghèo, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn đạt chuẩn theo tiêu chí nông thôn mới./.

Theo Tạp chí Cộng sản…




[caption id="attachment_1880" align="alignleft" width="300" caption="Nguồn ảnh: supermind.edu.vn"][/caption]

VNSW xin giới thiệu bài viết "Phát triển con người toàn diện ở Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI" của PGS.TS Nguyễn Thị Nga, Học viện Chính trị và Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Bài viết được đăng trên Tạp chí Cộng sản Điện tử...

Con người là nhân tố quan trọng nhất bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Việc đầu tư cho sự phát triển của con người không chỉ vì mục tiêu nhân văn mà còn là sự đầu tư có lợi nhất cho sự phát triển bền vững. Đó là những kết luận khá thống nhất trong kinh nghiệm của các nước phát triển và là bài học cần ghi nhớ của các nước đi sau như Việt Nam.

Nhân loại đang ở những thập niên đầu thế kỷ XXI, đã chứng kiến những bước tiến diệu kỳ của khoa học và công nghệ, những đóng góp của nó cho nền sản xuất vật chất xã hội tạo nên nền kinh tế tri thức. Tài nguyên thiên nhiên là cái hữu hạn, dù giàu có nhưng khai thác mãi cũng cạn kiệt; nguồn vốn tư bản không phải quốc gia nào cũng phong phú, chỉ có tri thức của nhân loại ngày càng trở nên bất tận. Hơn nữa, trong quá trình phát triển bản thân nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác tự nó không thể tham gia các quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Chỉ thông qua hoạt động thực tiễn của con người bằng sức mạnh của trí tuệ kết hợp với các nguồn lực mới có thể tạo nên tăng trưởng và tăng trưởng bền vững. Để khai thác các nguồn vốn, các nguồn tài nguyên và cả nguồn nhân lực một cách hiệu quả tạo nên chất lượng của sự tăng trưởng thì yếu tố con người đóng vai trò quan trọng.

Điều này khẳng định ý nghĩa quyết định của nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân trước đây, cũng như công cuộc đổi mới xây dựng đất nước hiện nay. Đó là lô-gíc tất yếu và cũng là hướng đi đồng thuận với xu thế phát triển bền vững phù hợp với xu hướng chung của nhân loại tiến bộ – không tuyệt đối hoá sức mạnh của kinh tế, không thần thánh hoá khoa học, công nghệ, không gạt bỏ cội rễ văn hoá truyền thống, không lãng phí nguồn vốn của tương lai. Quan điểm con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đã được khẳng định trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991- 2000 được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII thông qua năm 1991 và tiếp tục được khẳng định lại trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI và đó cũng là quan điểm cơ bản để phát triển chủ nghĩa xã hội Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI.

Đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng trong những thập niên đầu thế kỷ XXI được thể hiện ở nhiều phương diện. Phát triển con người toàn diện là một trong những quan điểm cơ bản không thể thiếu để bảo đảm tính nhân văn và tính hiện thực của xã hội mới. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta đã xác định “ xã hội xã hội chủ nghĩa mà ta nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện…”(1). Cùng với nhiều nội dung khác, quan điểm giải phóng con người, hướng người dân tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện tiếp tục được duy trì, khẳng định như những nét cơ bản không thể thiếu trong chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

Nghiên cứu về con người cho thấy, yếu tố sinh học và yếu tố xã hội hòa quyện thống nhất với nhau cùng góp phần tạo ra bản chất người và nét đặc thù của mỗi cá nhân riêng biệt. Bài học có tính phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là, không tuyệt đối hoá yếu tố sinh vật hay yếu tố xã hội, không tách rời yếu tố sinh học khỏi yếu tố xã hội, sự phát triển của xã hội, tiến bộ xã hội sẽ được biểu hiện bằng các chỉ số quan tâm đến việc thoả mãn các nhu cầu sinh học cần thiết của con người cho tương ứng với trình độ phát triển xã hội, và ngược lại, việc thoả mãn các nhu cầu sinh học của con người cần được đặt trong hoàn cảnh xã hội cụ thể, trong các quan hệ xã hội cụ thể, trong các điều kiện chính trị, luật pháp, văn hoá, kinh tế cụ thể.

Những quan niệm có tính phiến diện khi tuyệt đối hoá mặt tự nhiên, cũng như tuyệt đối hoá khía cạnh xã hội nào đó của con người đã bộc lộ những hạn chế. Những khám phá mới nhất trong nhận thức nhân loại về con người cho thấy con người có nguồn gốc bền chặt từ tự nhiên, gắn bó chặt chẽ với tự nhiên, chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên, quy luật sinh học… Sự phát triển của khoa học ngày càng thừa nhận vai trò quan trọng của yếu tố sinh học, sự phát triển con người không thể bỏ qua yếu tố sinh học tự nhiên. Nó gợi mở hướng đi tất yếu rằng, chiến lược con người Việt Nam cần có sự đầu tư thích đáng hơn nữa về nguồn gốc, chủng tộc, cơ chế di truyền, sức khoẻ, tuổi thọ… Phát triển con người Việt Nam toàn diện hiện nay cần phải được quan tâm trước hết về thể chất.

Những năm qua, mặc dù thể lực của người Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Trước năm 1945, người Việt Nam cao hơn người Nhật 2cm. Hiện nay, người Nhật cao hơn người Việt Nam 10cm. Theo các nhà nghiên cứu, so sánh chiều cao thanh niên Việt Nam với thanh niên Thái Lan, nam thanh niên Việt Nam thấp hơn 4cm, nữ thanh niên Việt Nam thấp hơn 2cm. So với chuẩn quốc tế, nam thanh niên Việt Nam thấp hơn 13,1 cm, nữ thanh niên Việt Nam thấp hơn 10,7cm. Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi còn cao. Mỗi năm ở Việt Nam có 7.000 trẻ em bị tử vong liên quan đến suy dinh dưỡng(2).

Các chuyên gia nghiên cứu y học và xã hội đã chỉ ra rằng, không chỉ các yếu tố sinh học ảnh hưởng đến tinh thần và thể chất của con người, mà chính các yếu tố kinh tế – văn hoá - xã hội là những nhân tố quan trọng tác động tới tinh thần, thể chất và tuổi thọ của con người. Vì vậy chỉ số HDI là một trong những chỉ số phản ánh sự tiến bộ của xã hội. Trong những năm đổi mới vừa qua, chỉ số phát triển con người Việt Nam liên tục có những bước cải thiện đáng kể. Theo báo cáo của Liên hợp quốc, chỉ số phát triển con người của Việt Nam năm 2004 đứng thứ 112/177 nước; Năm 2006 thứ 109/177 nước; Năm 2008 thứ 105/177 nước. Dù chỉ số phát triển con người Việt Nam liên tục được cải thiện, song tốc độ còn hạn chế nên trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, Việt Nam cần đẩy mạnh các giải pháp cần thiết cải thiện tốc độ phát triển nhanh và bền vững hơn.Việc phát hiện và bồi dưỡng các năng khiếu và nhiều tiềm năng đặc biệt của con người cũng đựơc đặt ra. Bên cạnh đó các vấn đề ý thức, nhiều vấn đề khác của con người cần tiếp tục được bổ sung. Đây chính là vấn đề năng lực đặc biệt của con người, năng lực tiềm tàng trong cơ thể, trong não bộ, trong thần kinh, nói cụ thể hơn đó là thể lực, trí tuệ, tâm lực ở dạng tiềm tàng của mỗi con người. Vấn đề mà trước đây C.Mác đã từng nói tới dưới tên gọi “lực lượng bản chất”, sức mạnh tự nhiên của con người.

Tuy nhiên, phát triển con người không dừng lại ở yếu tố tự nhiên, sinh học, bởi lẽ con người còn là thực thể tự nhiên mang tính xã hội, như có nhà nghiên cứu đã từng viết: “lịch sử của con người là lịch sử không ngừng văn minh hoá những hành vi có tính động vật”(3). Ngược lại, việc phát triển con người trong xã hội cụ thể cũng không thoát ly khỏi những tiền đề, quy luật sinh học vốn có của con người. Xa rời nguyên tắc cơ bản ấy là sự thoát ly hiện thực, chủ quan, duy ý chí.

Coi trọng việc phát triển những phẩm chất, nhân cách, giá trị xã hội ở con người là nội dung quan trọng không thể xem nhẹ. Trong định hướng phát triển con người thời nào cũng được đề cập chỉ có điều sự định hướng cụ thể ở mỗi thời kỳ, mỗi dân tộc lại không giống nhau. Trong xã hội phong kiến phương Đông ở Trung Quốc, Việt Nam hay một số quốc gia khác, con người mà trung tâm xã hội hướng tới là các nhà Nho, kẻ sĩ, bậc quân tử; phẩm chất nhân cách cơ bản là sự tôn trọng tôn ti trật tự trên dưới theo đạo Luân – Thường. Chủ nghĩa tư bản lại hướng tới những con người năng động, vượt lên cái trật tự vốn có, cổ vũ cho sự tự do sáng tạo cá nhân. Việc nhấn mạnh những phẩm chất, nhân cách, giá trị xã hội của con người theo chiều hướng nào, điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nó không chỉ mang dấu ấn nhận thức chung của thời đại, của điều kiện kinh tế - chính trị – xã hội thời đại hiện đang sống, truyền thống, bản sắc văn hoá của từng dân tộc và cả sự chọn lựa định hướng, giáo dục, xây dựng của các nhà tư tưởng, các nhà lãnh đạo, quản lý xã hội v.v.. Nói cách khác, những phẩm chất, nhân cách, giá trị cần phát triển ở con người ở một giai đoạn nào đó là kết quả tổng hợp của sự lựa chọn dựa trên những tiền đề được xác định, được quy định không chỉ bởi những điều kiện khách quan, mà cả những yếu tố có tính chủ quan.

Khi nói đến con người, C.Mác đã chỉ rõ: “con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội”(4). Phát triển con người Việt Nam hiện nay tất yếu không thoát ly khỏi các điều kiện văn hoá, chính trị, xã hội Việt Nam.

Xét từ góc độ tinh thần, phát triển con người toàn diện những thập niên đầu thế kỷ XXI, trước hết phải nói đến sự phát triển về trí tuệ, tri thức, hiểu biết, phát triển con người về mặt trí lực. Bởi lẽ, từ góc độ cá nhân, trí tuệ, tri thức là một trong những yếu tố không thể thiếu làm nên vẻ đẹp và sức mạnh con người trong xã hội hiện đại, là yếu tố không thể thiếu để con người phát huy năng lực chủ động, tích cực, sáng tạo; từ góc độ xã hội, đó là yếu tố không thể thiếu trên con đường thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trí tuệ, tri thức con người Việt Nam hiện nay cũng cần được nhìn nhận ở góc độ toàn diện. Đó không chỉ là những tri thức về văn hiến, văn chương, lịch đại như Nho giáo nhấn mạnh mà còn bao gồm những kiến thức khoa học, ứng dụng công nghệ, phát triển kinh doanh, sản xuất,ở tri thức pháp luật v.v.. phục vụ cho sự phát triển xã hội và con người. Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, khi Việt Nam đang tập trung vào thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế thì việc phát triển con người về trí tuệ cần được trang bị vững chắc kiến thức phổ thông làm nền tảng, kết hợp việc đẩy mạnh hướng nghiệp, đào tạo nghề với việc đào tạo đội ngũ có chuyên môn nghiệp vụ tinh thông, nắm bắt khoa học công nghệ, kỹ năng liên kết hợp tác để hình thành đội ngũ lao động chất lượng cao. Hơn nữa, phát triển con người về mặt trí lực trong thế kỷ XXI cần được quan tâm từ góc độ tư duy sáng tạo, khắc phục lối tư duy khuôn mẫu giáo điều, ưa thích nghi hơn sự năng động sáng tạo của con người Việt Nam truyền thống. Hiện nay, ưu thế cạnh tranh của các quốc gia trong quá trình hội nhập không phải ở chỗ cơ cấu nguồn nhân lực đông mà ở chỗ nguồn nhân lực có chất lượng cao. Phát triển trí lực con người là một chỉ số quan trọng, gia tăng chất lượng con người cá nhân; từ góc độ quốc gia, đó chính là gia tăng chất lượng dân số, gia tăng chỉ số năng lực cạnh tranh.

Con người phát triển trí lực gắn liền với khả năng lao động sáng tạo. Từ góc độ khác, sự trau dồi tri thức, làm giàu trí lực của mỗi cá nhân đã là một hình thức lao động đặc biệt của con người. Mặt khác, dù ở xã hội nào con người cũng cần lao động – một loại lao động đặc biệt đã từng được nhấn mạnh như là một khía cạnh đặc trưng của loài là dấu hiệu có tính bản chất. Tuy vậy, nhấn mạnh sự phát triển con người từ góc độ lao động không đồng nhất với việc sử dụng lao động để bóc lột, dùng lao động để tha hoá, nô dịch con người. Lao động trong chủ nghĩa xã hội còn được coi là quyền cơ bản của con người được thể chế bằng pháp luật. Xã hội tạo điều kiện để con người được thực hiện quyền cơ bản đó như một yếu tố để con người có điều kiện bảo đảm cuộc sống cá nhân, phát triển, hoàn thiện nhân cách.

Xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI cần phải có những con người phát triển toàn diện, không chỉ về thể lực, trí lực, khả năng lao động mà cần có đạo đức, văn hoá của xã hội mới. Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói một cách ngắn gọn đó là những con người “vừa có đức vừa có tài”, “vừa hồng vừa chuyên”. Cái “đức”, cái “hồng” ở đây chính là phẩm chất, nhân cách, hệ giá trị của con người Việt Nam hiện đại, đó là sự chọn lọc, kết tinh các giá trị tinh thần truyền thống và tinh hoa nhân loại trước những yêu cầu của đất nước, thời đại đặt ra. Trong thời gian qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội có nhiều biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhiều vụ án tham nhũng lớn được phát hiện, nhiều tệ nạn xã hội xuất hiện, nhiều giá trị đạo đức truyền thống bị xem nhẹ trong giới trẻ. Kết quả khảo sát của Hội Tâm lý giáo dục Vịêt Nam trên 1.200 học sinh, sinh viên về những giá trị đạo đức của người Việt Nam hiện nay cho thấy, giới trẻ đã “chấm” các chuẩn mực “hiệu quả công việc” và “trung thực trong kinh doanh” thấp nhất trong 22 chuẩn mực giá trị đạo đức của người Việt Nam(5).

Cho dù nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, toàn cầu hoá đang là xu thế tất yếu, con người ở các quốc gia, các dân tộc khác nhau đang tiếp tục đẩy mạnh giao lưu để hội nhập, để phát triển, song điều đó không có nghĩa con người đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc, rời xa cội nguồn, bỏ rơi truyền thống. Phát triển nhân cách, định hướng giá trị xã hội con người Việt Nam theo hướng toàn diện tuyệt đối không bỏ quên điều này. Bên cạnh những giá trị chung có tính toàn cầu thời đại đặt ra, việc bảo tồn, phát huy những giá trị tinh thần truyền thống và bồi dưỡng phát triển hệ giá trị mới là điều cần được khẳng định. Điều này được thể hiện trong những văn kiện lớn của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) xác định: Con người Việt Nam mới “là con người có ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe và lao động giỏi; sống có văn hoá và tình nghĩa; giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính”(6). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, mục tiêu chiến lược về văn hoá, xã hội khẳng định: “ Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật ”(7).

Như vậy phát triển con người toàn diện cả về mặt sinh học và phương diện xã hội là xây dựng chiến lược phát triển con người Việt Nam theo hướng không ngừng nâng cao thể trạng con người Việt Nam theo các chỉ số có tính quốc tế, bồi dưỡng, hoàn thiện các giá trị xã hội theo hướng: không mơ hồ về lý tưởng, về con đường xây dựng đất nước mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân ta lựa chọn và dày công xây đắp; có năng lực trí tuệ ngang tầm thời đại; có đạo đức cách mạng trong sáng; có ý thức công dân, tuân thủ pháp luật; có bản lĩnh văn hoá để có thể tiếp biến một cách chọn lọc tinh hoa văn hoá của nhân loại mà không đánh mất bản sắc của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.

Phát triển con người toàn diện cho cá nhân trong cộng đồng dân tộc Việt Nam là một trong những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Đó cũng là đặc trưng cơ bản của xã hội mới trong những phác thảo mang tính dự báo của C. Mác, Ph.Ăngghen về chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Theo đó, bên cạnh xu hướng phát triển cao về kinh tế thì chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội giải phóng và tạo điều kiện để con người có thể phát triển một cách tự do hơn, toàn diện hơn và nhân văn hơn. Tuy nhiên, thực hiện mục tiêu đó trong điều kiện Việt Nam hiện nay là một quá trình lâu dài, đầy thách thức nếu chỉ dừng ở khát vọng, ý chí chủ quan là hoàn toàn không đủ, đòi hỏi có sự chuẩn bị những tiền đề, điều kiện vật chất khách quan cần thiết khác. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi đề xuất một số giải pháp cơ bản có tính định hướng như những nguyên tắc cần được quán triệt để có thể phát triển con người toàn diện.

Về kinh tế, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường, xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững, gắn với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Về chính trị - xã hội, tiếp tục củng cố ổn định chính trị, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng; Trên lĩnh vực này Nhà nước cần có chính sách, cách thức tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát nhằm giảm thiểu những nguy cơ tiềm ẩn đối với việc phát triển con người hiện nay, như: vấn đề việc làm, thu nhập, lạm phát, dinh dưỡng, nghèo đói, ô nhiễm môi trường, lao động không được bảo hộ, tệ nạn xã hội , bạo lực, không có điều kiện tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, văn hoá...

Về văn hoá, giáo dục, tiếp tục xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc làm nền tảng tinh thần cho mỗi cá nhân; tiếp tục đẩy mạnh phát triển giáo dục theo hướng dân tộc, hiện đại toàn diện đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn đất nước và thời đại đặt ra.

Và cuối cùng, việc phát triển con người toàn diện cần được quán triệt trong các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong từng giải pháp của các cấp, các ngành, các địa phương, trong mỗi gia đình và đến từng cá nhân. Để có được điều này, sự tham gia một cách chủ động, tích cực của các phương tiện thông tiện truyền thông là điều không thể thiếu./.

---------------------------------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 70

(2) Theo báo cáo tổng hợp nghiên cứu đề tài cấp bộ năm 2008 “xây dựng và phát triển con người Việt Nam trong điều kiện công nghiệp hoá hiện đại hoá gắn với phát triển tri thức”, tr 81

(3) GS. Đặng Xuân Kỳ (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 128

(4) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 1, tr 569

(5) Theo Việtnamnet.com cập nhật vào ngày 13-12-2009.

(6) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr 15

(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 105

( Theo tạp chí Cộng sản điện tử)...



Con người là nhân tố quan trọng nhất bảo đảm cho sự phát triển bền vững. Việc đầu tư cho sự phát triển của con người không chỉ vì mục tiêu nhân văn mà còn là sự đầu tư có lợi nhất cho sự phát triển bền vững. Đó là những kết luận khá thống nhất trong kinh nghiệm của các nước phát triển và là bài học cần ghi nhớ của các nước đi sau như Việt Nam.Nhân loại đang ở những thập niên đầu thế kỷ XXI, đã chứng kiến những bước tiến diệu kỳ của khoa học và công nghệ, những đóng góp của nó cho nền sản xuất vật chất xã hội tạo nên nền kinh tế tri thức. Tài nguyên thiên nhiên là cái hữu hạn, dù giàu có nhưng khai thác mãi cũng cạn kiệt; nguồn vốn tư bản không phải quốc gia nào cũng phong phú, chỉ có tri thức của nhân loại ngày càng trở nên bất tận. Hơn nữa, trong quá trình phát triển bản thân nguồn lực tự nhiên và các nguồn lực khác tự nó không thể tham gia các quá trình phát triển kinh tế – xã hội. Chỉ thông qua hoạt động thực tiễn của con người bằng sức mạnh của trí tuệ kết hợp với các nguồn lực mới có thể tạo nên tăng trưởng và tăng trưởng bền vững. Để khai thác các nguồn vốn, các nguồn tài nguyên và cả nguồn nhân lực một cách hiệu quả tạo nên chất lượng của sự tăng trưởng thì yếu tố con người đóng vai trò quan trọng.  

Điều này khẳng định ý nghĩa quyết định của nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân trước đây, cũng như công cuộc đổi mới xây dựng đất nước hiện nay. Đó là lô-gíc tất yếu và cũng là hướng đi đồng thuận với xu thế phát triển bền vững phù hợp với xu hướng chung của nhân loại tiến bộ – không tuyệt đối hoá sức mạnh của kinh tế, không thần thánh hoá khoa học, công nghệ, không gạt bỏ cội rễ văn hoá truyền thống, không lãng phí nguồn vốn của tương lai. Quan điểm con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đã được khẳng định trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội 1991- 2000 được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII thông qua năm 1991 và tiếp tục được khẳng định lại trong các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI và đó cũng là quan điểm cơ bản để phát triển chủ nghĩa xã hội Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI.

Đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng trong những thập niên đầu thế kỷ XXI được thể hiện ở nhiều phương diện. Phát triển con người toàn diện là một trong những quan điểm cơ bản không thể thiếu để bảo đảm tính nhân văn và tính hiện thực của xã hội mới. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) Đảng ta đã xác định “ xã hội xã hội chủ nghĩa mà ta nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện…”(1). Cùng với nhiều nội dung khác, quan điểm giải phóng con người, hướng người dân tới cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện tiếp tục được duy trì, khẳng định như những nét cơ bản không thể thiếu trong chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

Nghiên cứu về con người cho thấy, yếu tố sinh học và yếu tố xã hội hòa quyện thống nhất với nhau cùng góp phần tạo ra bản chất người và nét đặc thù của mỗi cá nhân riêng biệt. Bài học có tính phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là, không tuyệt đối hoá yếu tố sinh vật hay yếu tố xã hội, không tách rời yếu tố sinh học khỏi yếu tố xã hội, sự phát triển của xã hội, tiến bộ xã hội sẽ được biểu hiện bằng các chỉ số quan tâm đến việc thoả mãn các nhu cầu sinh học cần thiết của con người cho tương ứng với trình độ phát triển xã hội, và ngược lại, việc thoả mãn các nhu cầu sinh học của con người cần được đặt trong hoàn cảnh xã hội cụ thể, trong các quan hệ xã hội cụ thể, trong các điều kiện chính trị, luật pháp, văn hoá, kinh tế cụ thể.

Những quan niệm có tính phiến diện khi tuyệt đối hoá mặt tự nhiên, cũng như tuyệt đối hoá khía cạnh xã hội nào đó của con người đã bộc lộ những hạn chế. Những khám phá mới nhất trong nhận thức nhân loại về con người cho thấy con người có nguồn gốc bền chặt từ tự nhiên, gắn bó chặt chẽ với tự nhiên, chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên, quy luật sinh học… Sự phát triển của khoa học ngày càng thừa nhận vai trò quan trọng của yếu tố sinh học, sự phát triển con người không thể bỏ qua yếu tố sinh học tự nhiên. Nó gợi mở hướng đi tất yếu rằng, chiến lược con người Việt Nam cần có sự đầu tư thích đáng hơn nữa về nguồn gốc, chủng tộc, cơ chế di truyền, sức khoẻ, tuổi thọ… Phát triển con người Việt Nam toàn diện hiện nay cần phải được quan tâm trước hết về thể chất.

Những năm qua, mặc dù thể lực của người Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Trước năm 1945, người Việt Nam cao hơn người Nhật 2cm. Hiện nay, người Nhật cao hơn người Việt Nam 10cm. Theo các nhà nghiên cứu, so sánh chiều cao thanh niên Việt Nam với thanh niên Thái Lan, nam thanh niên Việt Nam thấp hơn 4cm, nữ thanh niên Việt Nam thấp hơn 2cm. So với chuẩn quốc tế, nam thanh niên Việt Nam thấp hơn 13,1 cm, nữ thanh niên Việt Nam thấp hơn 10,7cm. Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam dưới 5 tuổi còn cao. Mỗi năm ở Việt Nam có 7.000 trẻ em bị tử vong liên quan đến suy dinh dưỡng(2).

Các chuyên gia nghiên cứu y học và xã hội đã chỉ ra rằng, không chỉ các yếu tố sinh học ảnh hưởng đến tinh thần và thể chất của con người, mà chính các yếu tố kinh tế – văn hoá - xã hội là những nhân tố quan trọng tác động tới tinh thần, thể chất và tuổi thọ của con người. Vì vậy chỉ số HDI là một trong những chỉ số phản ánh sự tiến bộ của xã hội. Trong những năm đổi mới vừa qua, chỉ số phát triển con người Việt Nam liên tục có những bước cải thiện đáng kể. Theo báo cáo của Liên hợp quốc, chỉ số phát triển con người của Việt Nam năm 2004 đứng thứ 112/177 nước; Năm 2006 thứ 109/177 nước; Năm 2008 thứ 105/177 nước. Dù chỉ số phát triển con người Việt Nam liên tục được cải thiện, song tốc độ còn hạn chế nên trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, Việt Nam cần đẩy mạnh các giải pháp cần thiết cải thiện tốc độ phát triển nhanh và bền vững hơn.Việc phát hiện và bồi dưỡng các năng khiếu và nhiều tiềm năng đặc biệt của con người cũng đựơc đặt ra. Bên cạnh đó các vấn đề ý thức, nhiều vấn đề khác của con người cần tiếp tục được bổ sung. Đây chính là vấn đề năng lực đặc biệt của con người, năng lực tiềm tàng trong cơ thể, trong não bộ, trong thần kinh, nói cụ thể hơn đó là thể lực, trí tuệ, tâm lực ở dạng tiềm tàng của mỗi con người. Vấn đề mà trước đây C.Mác đã từng nói tới dưới tên gọi “lực lượng bản chất”, sức mạnh tự nhiên của con người.

Tuy nhiên, phát triển con người không dừng lại ở yếu tố tự nhiên, sinh học, bởi lẽ con người còn là thực thể tự nhiên mang tính xã hội, như có nhà nghiên cứu đã từng viết: “lịch sử của con người là lịch sử không ngừng văn minh hoá những hành vi có tính động vật”(3). Ngược lại, việc phát triển con người trong xã hội cụ thể cũng không thoát ly khỏi những tiền đề, quy luật sinh học vốn có của con người. Xa rời nguyên tắc cơ bản ấy là sự thoát ly hiện thực, chủ quan, duy ý chí.

Coi trọng việc phát triển những phẩm chất, nhân cách, giá trị xã hội ở con người là nội dung quan trọng không thể xem nhẹ. Trong định hướng phát triển con người thời nào cũng được đề cập chỉ có điều sự định hướng cụ thể ở mỗi thời kỳ, mỗi dân tộc lại không giống nhau. Trong xã hội phong kiến phương Đông ở Trung Quốc, Việt Nam hay một số quốc gia khác, con người mà trung tâm xã hội hướng tới là các nhà Nho, kẻ sĩ, bậc quân tử; phẩm chất nhân cách cơ bản là sự tôn trọng tôn ti trật tự trên dưới theo đạo Luân – Thường. Chủ nghĩa tư bản lại hướng tới những con người năng động, vượt lên cái trật tự vốn có, cổ vũ cho sự tự do sáng tạo cá nhân. Việc nhấn mạnh những phẩm chất, nhân cách, giá trị xã hội của con người theo chiều hướng nào, điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nó không chỉ mang dấu ấn nhận thức chung của thời đại, của điều kiện kinh tế - chính trị – xã hội thời đại hiện đang sống, truyền thống, bản sắc văn hoá của từng dân tộc và cả sự chọn lựa định hướng, giáo dục, xây dựng của các nhà tư tưởng, các nhà lãnh đạo, quản lý xã hội v.v.. Nói cách khác, những phẩm chất, nhân cách, giá trị cần phát triển ở con người ở một giai đoạn nào đó là kết quả tổng hợp của sự lựa chọn dựa trên những tiền đề được xác định, được quy định không chỉ bởi những điều kiện khách quan, mà cả những yếu tố có tính chủ quan.

Khi nói đến con người, C.Mác đã chỉ rõ: “con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà nước, là xã hội”(4). Phát triển con người Việt Nam hiện nay tất yếu không thoát ly khỏi các điều kiện văn hoá, chính trị, xã hội Việt Nam.

Xét từ góc độ tinh thần, phát triển con người toàn diện những thập niên đầu thế kỷ XXI, trước hết phải nói đến sự phát triển về trí tuệ, tri thức, hiểu biết, phát triển con người về mặt trí lực. Bởi lẽ, từ góc độ cá nhân, trí tuệ, tri thức là một trong những yếu tố không thể thiếu làm nên vẻ đẹp và sức mạnh con người trong xã hội hiện đại, là yếu tố không thể thiếu để con người phát huy năng lực chủ động, tích cực, sáng tạo; từ góc độ xã hội, đó là yếu tố không thể thiếu trên con đường thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trí tuệ, tri thức con người Việt Nam hiện nay cũng cần được nhìn nhận ở góc độ toàn diện. Đó không chỉ là những tri thức về văn hiến, văn chương, lịch đại như Nho giáo nhấn mạnh mà còn bao gồm những kiến thức khoa học, ứng dụng công nghệ, phát triển kinh doanh, sản xuất,ở tri thức pháp luật v.v.. phục vụ cho sự phát triển xã hội và con người. Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, khi Việt Nam đang tập trung vào thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế thì việc phát triển con người về trí tuệ cần được trang bị vững chắc kiến thức phổ thông làm nền tảng, kết hợp việc đẩy mạnh hướng nghiệp, đào tạo nghề với việc đào tạo đội ngũ có chuyên môn nghiệp vụ tinh thông, nắm bắt khoa học công nghệ, kỹ năng liên kết hợp tác để hình thành đội ngũ lao động chất lượng cao. Hơn nữa, phát triển con người về mặt trí lực trong thế kỷ XXI cần được quan tâm từ góc độ tư duy sáng tạo, khắc phục lối tư duy khuôn mẫu giáo điều, ưa thích nghi hơn sự năng động sáng tạo của con người Việt Nam truyền thống. Hiện nay, ưu thế cạnh tranh của các quốc gia trong quá trình hội nhập không phải ở chỗ cơ cấu nguồn nhân lực đông mà ở chỗ nguồn nhân lực có chất lượng cao. Phát triển trí lực con người là một chỉ số quan trọng, gia tăng chất lượng con người cá nhân; từ góc độ quốc gia, đó chính là gia tăng chất lượng dân số, gia tăng chỉ số năng lực cạnh tranh.

Con người phát triển trí lực gắn liền với khả năng lao động sáng tạo. Từ góc độ khác, sự trau dồi tri thức, làm giàu trí lực của mỗi cá nhân đã là một hình thức lao động đặc biệt của con người. Mặt khác, dù ở xã hội nào con người cũng cần lao động – một loại lao động đặc biệt đã từng được nhấn mạnh như là một khía cạnh đặc trưng của loài là dấu hiệu có tính bản chất. Tuy vậy, nhấn mạnh sự phát triển con người từ góc độ lao động không đồng nhất với việc sử dụng lao động để bóc lột, dùng lao động để tha hoá, nô dịch con người. Lao động trong chủ nghĩa xã hội còn được coi là quyền cơ bản của con người được thể chế bằng pháp luật. Xã hội tạo điều kiện để con người được thực hiện quyền cơ bản đó như một yếu tố để con người có điều kiện bảo đảm cuộc sống cá nhân, phát triển, hoàn thiện nhân cách.

Xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI cần phải có những con người phát triển toàn diện, không chỉ về thể lực, trí lực, khả năng lao động mà cần có đạo đức, văn hoá của xã hội mới. Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nói một cách ngắn gọn đó là những con người “vừa có đức vừa có tài”, “vừa hồng vừa chuyên”. Cái “đức”, cái “hồng” ở đây chính là phẩm chất, nhân cách, hệ giá trị của con người Việt Nam hiện đại, đó là sự chọn lọc, kết tinh các giá trị tinh thần truyền thống và tinh hoa nhân loại trước những yêu cầu của đất nước, thời đại đặt ra. Trong thời gian qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội có nhiều biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhiều vụ án tham nhũng lớn được phát hiện, nhiều tệ nạn xã hội xuất hiện, nhiều giá trị đạo đức truyền thống bị xem nhẹ trong giới trẻ. Kết quả khảo sát của Hội Tâm lý giáo dục Vịêt Nam trên 1.200 học sinh, sinh viên về những giá trị đạo đức của người Việt Nam hiện nay cho thấy, giới trẻ đã “chấm” các chuẩn mực “hiệu quả công việc” và “trung thực trong kinh doanh” thấp nhất trong 22 chuẩn mực giá trị đạo đức của người Việt Nam(5).

Cho dù nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, toàn cầu hoá đang là xu thế tất yếu, con người ở các quốc gia, các dân tộc khác nhau đang tiếp tục đẩy mạnh giao lưu để hội nhập, để phát triển, song điều đó không có nghĩa con người đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc, rời xa cội nguồn, bỏ rơi truyền thống. Phát triển nhân cách, định hướng giá trị xã hội con người Việt Nam theo hướng toàn diện tuyệt đối không bỏ quên điều này. Bên cạnh những giá trị chung có tính toàn cầu thời đại đặt ra, việc bảo tồn, phát huy những giá trị tinh thần truyền thống và bồi dưỡng phát triển hệ giá trị mới là điều cần được khẳng định. Điều này được thể hiện trong những văn kiện lớn của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) xác định: Con người Việt Nam mới “là con người có ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe và lao động giỏi; sống có văn hoá và tình nghĩa; giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính”(6). Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, mục tiêu chiến lược về văn hoá, xã hội khẳng định: “ Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật ”(7).

Như vậy phát triển con người toàn diện cả về mặt sinh học và phương diện xã hội là xây dựng chiến lược phát triển con người Việt Nam theo hướng không ngừng nâng cao thể trạng con người Việt Nam theo các chỉ số có tính quốc tế, bồi dưỡng, hoàn thiện các giá trị xã hội theo hướng: không mơ hồ về lý tưởng, về con đường xây dựng đất nước mà Đảng, Bác Hồ, nhân dân ta lựa chọn và dày công xây đắp; có năng lực trí tuệ ngang tầm thời đại; có đạo đức cách mạng trong sáng; có ý thức công dân, tuân thủ pháp luật; có bản lĩnh văn hoá để có thể tiếp biến một cách chọn lọc tinh hoa văn hoá của nhân loại mà không đánh mất bản sắc của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.

Phát triển con người toàn diện cho cá nhân trong cộng đồng dân tộc Việt Nam là một trong những đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Đó cũng là đặc trưng cơ bản của xã hội mới trong những phác thảo mang tính dự báo của C. Mác, Ph.Ăngghen về chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Theo đó, bên cạnh xu hướng phát triển cao về kinh tế thì chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội giải phóng và tạo điều kiện để con người có thể phát triển một cách tự do hơn, toàn diện hơn và nhân văn hơn. Tuy nhiên, thực hiện mục tiêu đó trong điều kiện Việt Nam hiện nay là một quá trình lâu dài, đầy thách thức nếu chỉ dừng ở khát vọng, ý chí chủ quan là hoàn toàn không đủ, đòi hỏi có sự chuẩn bị những tiền đề, điều kiện vật chất khách quan cần thiết khác. Trong khuôn khổ bài viết, chúng tôi đề xuất một số giải pháp cơ bản có tính định hướng như những nguyên tắc cần được quán triệt để có thể phát triển con người toàn diện.

Về kinh tế, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường, xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế bền vững, gắn với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Về chính trị - xã hội, tiếp tục củng cố ổn định chính trị, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng; Trên lĩnh vực này Nhà nước cần có chính sách, cách thức tổ chức thực hiện, kiểm tra giám sát nhằm giảm thiểu những nguy cơ tiềm ẩn đối với việc phát triển con người hiện nay, như: vấn đề việc làm, thu nhập, lạm phát, dinh dưỡng, nghèo đói, ô nhiễm môi trường, lao động không được bảo hộ, tệ nạn xã hội , bạo lực, không có điều kiện tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, văn hoá...

Về văn hoá, giáo dục, tiếp tục xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc làm nền tảng tinh thần cho mỗi cá nhân; tiếp tục đẩy mạnh phát triển giáo dục theo hướng dân tộc, hiện đại toàn diện đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn đất nước và thời đại đặt ra.

Và cuối cùng, việc phát triển con người toàn diện cần được quán triệt trong các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong từng giải pháp của các cấp, các ngành, các địa phương, trong mỗi gia đình và đến từng cá nhân. Để có được điều này, sự tham gia một cách chủ động, tích cực của các phương tiện thông tiện truyền thông là điều không thể thiếu./.

---------------------------------------------

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 70

(2) Theo báo cáo tổng hợp nghiên cứu đề tài cấp bộ năm 2008 “xây dựng và phát triển con người Việt Nam trong điều kiện công nghiệp hoá hiện đại hoá gắn với phát triển tri thức”, tr 81

(3) GS. Đặng Xuân Kỳ (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 128

(4) C.Mác và Ph.Ăng-ghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t 1, tr 569

(5) Theo Việtnamnet.com cập nhật vào ngày 13-12-2009.

(6) Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr 15

(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 105

VNSW xin giới thiệu bài viết "Kết luận về các bài học phát triển đất nước" của GS Đặng Phong. Bài viết được đăng trên chungta.com

Chặng đường 15 năm đầu của nền kinh tế Việt Nam, từ 1975 đến 1989 đã có khá đủ những nếm trải để thể nghiệm được những quy luật muôn thuở của mối quan hệ: Tư duy – Chính sách – Đời sống.

Nhìn ra thế giới, thấy nước nào cũng vậy, nhìn ngược về quá khứ lịch sử, thấy thời đại nào cũng vậy. Chính mối quan hệ này có ý nghĩa quyết định sự thành bại của một chế độ, sự nhanh chậm của những bước phát triển, sự mạnh yếu của những quốc gia…

Những tính quy luật đó rất nhiều, nwhng chung quy không ngoài mấy quy luật cơ bản sau đây:

1/ Tốc độ vận hành và quan trọng hơn nữa là sự hanh thông trong mối quan hệ này là điều có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

Một đất nước dù yếu kém, nhưng nếu sớm nhận ra những khiếm khuyết, những nguy cơ, sớm có những biện pháp để khắc phục, sớm phát hiện được những thời cơ, những tiềm năng, rồi lại có những chính sách và biện pháp để tận lực khai thác những tiềm năng đó… thì đất nước đó ắt tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc.

Ở những quốc gia hay ở những thời kỳ mà sai lầm được nhận thức quá chậm, thường liên quan đến một nguyên nhân: tư duy đúng hoặc bị vùi dập, hoặc không được sớm chuyển hóa thành chính sách. Kết quả tất yếu là những chính sách sai chậm được sửa chữa. Nhất là khi quyền uy được dùng để che chắn cho những cái sai, thì những ách tắc thường dẫn một quốc gia tới tụt hậu.

Việt Nam ta, trong hơn 30 năm kể trên cũng đã trải nghiệm cả những điều hay, điều dở kể trên. Thí dụ, từ khi có quyết định tập thể hóa nông nghiệp và xây dựng các hợp tác xã (1958) cho tới khi có quyết định về chế độ khoán hộ và khôi phục kinh tế hộ gia đình nông dân (1988): mất 30 năm. Còn nếu kể từ khi sáng kiến khoán ở Vĩnh Phúc bị ngăn chặn (1968) cho tới khi cơ chế khoán được thừa nhận một cách đầy đủ với Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (1988), nền nông nghiệp và hàng chục triệu nông dân đã phải chờ đợi mất 20 năm.

Từ khi có quyết định xóa bỏ kinh doanh của tư nhân trong công thương nghiệp, cải tạo những nhà tư bản, biến họ thành những người lao động chân tay (1958) cho tới khi Nhà nước quyết định thừa nhận kinh tế tư nhân, tạo điều kiện cho kinh tế đó phát triển (1987)… đã có 29 năm trôi qua. Trong 29 năm đó đã mất mát biết bao nhiêu những năng lực về con người, về vốn liếng, về kỹ thuật, về các quan hệ kinh tế đối nội và đối ngoại…

Lại có những lúc tư duy sớm nhận biết được những vấn đề của thực tế và nhanh chóng chuyển thành chính sách, dũng cảm đưa nó vào cuộc sống, thì kinh tế chuyển biến rất nhanh. Thí dụ như những quyết định về khoán 100, về khoán 10, về 25-CP, nhất là Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VI, rồi sau đó là những quyết định nâng lãi suất tiết kiệm và tín dụng năm 1989, quyết định mở cửa, xóa bỏ tình trạng ngăn sông cấm chợ… Tất cả đều dẫn đến những kết quả rất tích cực, rất hiệu nghiệm và rất nhanh chóng…

Từ ngày đổi mới đến nay, sự tăng trưởng cao của GDP, việc cải thiện đời sống nhân dân, sự dồi dào của xuất nhập khẩu, của nền tài chính quốc gia… cũng tùy thuộc vào việc giải quyết tốt những mối quan hệ kể trên.

Ngày nay ta có được một nước Việt Nam giàu đẹp, ổn định, có vị thế quốc tế… chính là nhờ vận dụng tốt mối quan hệ kể trên.

2/ Để có được một sự vận động kịp thời và nhanh chóng của chu trình kể trên, điều kiện tối quan trọng là những kênh truyền dẫn.

- Truyền dẫn những thông tin, truyền dẫn những ý tưởng và sớm chuyển nó thành đường lối, chính sách
- Truyền dẫn những đường lối, chính sách tới thực tiễn

Tất cả những thời kỳ mà sự vận động này bị chậm chạp đều là do những kênh truyền dẫn bị ách tắc.

Khi những vấn đề của thực tiễn không được phản ánh đầy đủ tới những bộ óc đang điều hành đất nước, thì sự ách tắc tất yếu xảy ra.

Có chính sách đúng, có chủ trương đúng… vẫn chưa đủ. Cần phải có những kênh truyền dẫn những chính sách và chủ trương đó tới đời sống kinh tế. Con đường truyền dẫn này được thiết kế bởi hàng loạt những biện pháp cụ thể như: Hệ thống luật pháp, những thiết chế về lợi ích và trách nhiệm, hệ thống giáo dục và đào tạo, những con người được xếp đặt đúng chỗ, hệ thống ra lệnh và phản hồi nhạy bén và hữu hiệu…

3/ Để tạo được những kênh truyền dẫn tối ưu, vấn đề tổ chức hệ thống là cực kỳ quan trọng.

Đã có lần Lenin nói rằng tổ chức quyết định tất cả. Tổ chức ở đây được hiểu theo nghĩa rộng: Đó là những thiết chế của toàn bộ một xã hội từ trên xuống dưới, từ lĩnh vực này tới lĩnh vực kia, theo một mô hình như thế nào để toàn bộ các mối quan hệ có thể vận hành tốt nhất. Trong đó phải có cả những sự khích lệ thích đáng lẫn những sự răn đe và trừng phạt thích đáng. Một hệ thống mà khích lệ thói cơ hội, giả dối, kiêu ngạo… sẽ chỉ có thể là một xã hội trì trệ. Một hệ thống không đủ khả năng ngăn chặn những quyết sách sai lầm thì khó tránh khỏi hiểm họa.

Những nước phát triển cao đều là những nước đã có những tổ chức hệ thống rất tốt.

Nhưng không có hệ thống nào là tốt muôn thuở. Một hệ thống tốt phải là một hệ thống có khả năng điều chỉnh cao. Tùy theo từng thời kỳ, tùy theo những điều kiện xã hội, văn hóa và tâm lý, tổ chức hệ thống cũng phải kịp thời thay đổi để thích ứng. Với cách thông tin bằng ngựa chạy trạm thì tổ chức hệ thống khác với thông tin bằng telephone. Với hệ thống truyền thông và lưu trữ dữ liệu bằng hệ thống tin học hiện đại thì mối quan hệ lại càng phải khác đi. Tính ưu việt của một hệ thống không chỉ là sự nhanh chậm của việc truyền dẫn các thông tin, mà còn là sự nhanh chậm trong việc vận dụng tối đa những khả năng khoa học kỹ thuật, để không ngừng tự hoàn thiện.

Có một thời kỳ Việt Nam và nhiều nước xã hội chủ nghĩa đã xây dựng một hệ thống quá cồng kềnh, chồng chéo, giẫm chân lên nhau. Cách tổ chức hệ thống như vậy là một trong những nguyên nhân làm cho các kênh truyền dẫn bị ách tắc, chậm chạp, làm cho hầu hết các nước XHCN đã bị tụt hậu.

Từ khi chúng ta có những cải cách về mặt tổ chức bộ máy, thì hệ thống vận hành tốt hơn. Điều đó không những góp phần đưa những tư duy của cả nước vào việc xây dựng đường lối, mà còn góp phần thẩm tra và phát hiện sớm những sai lầm, ách tắc, kể cả những vi phạm…

4/ Tất cả những yếu tổ kể trên đều lệ thuộc vào một yếu tố chính trị quan trọng là: Dân chủ. Thời nhà Trần, để đối diện với quân Nguyên – Mông đang hoành hành trên khắp thế giới, với Hội nghị Diên Hồng, toàn dân đã hạ quyết tâm “sát thát” thì những sức mạnh thần kỳ đã đưa đến chiến thắng vẻ vang. Thời nhà Lê, việc xóa bỏ chế độ đẳng cấp khép kín để cho toàn dân được tham gia các khoa thi, bất cứ ai thuộc thành phần nào có tài, có đức, thi đỗ đều được trực tiếp tham gia điều hành quốc sự. Chính vì thế, nhà Lê đã tạo ra một trong những thời đại thịnh trị nhất của lịch sử Việt Nam xưa.

Đến thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối đại đoàn kết toàn dân, trước nguy cơ xâm lược, toàn dân đã đứng lên kháng chiến, không phân biệt tôn giáo, giai cấp, giàu nghèo, nam nữ, già trẻ. Một lần nữa sức mạnh của toàn dân đã đánh thắng kẻ thù.

Ngược lại, không phải đã không có những lúc chủ nghĩa thành phần, sự kỳ thị giai cấp, tính biệt phái trong hệ thống chính trị… đã làm cho sức mạnh của dân tộc suy yếu.

Dân chủ đồng thời cũng còn có nghĩa là tính công khai và minh bạch về chính trị trong toàn xã hội. Khẩu hiệu Dân biết, Dân bàn, Dân làm, Dân kiểm tra… chính là thể hiện tính dân chủ của một xã hội văn minh. Khi người dân không biết Nhà nước làm gì, không được bàn bạc những việc quốc sự, thì như thế là đã đánh mất đi một nguồn lực quan trọng của trí tuệ và thông tin. Sự chậm trễ, ách tắc và tụt hậu cũng từ đó mà ra.

Định nghĩa khái niệm dân chủ và cách ứng xử đối với nó cũng là vấn đề mà trước đây và hiện nay vẫn còn những cách nhìn khác nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh có một cách định nghĩa dân chủ rất đơn giản và ngắn gọn: “Các chú diễn giảng hai chữ dân chủ sao mà rắc rối, dài dòng thế? Dân chủ thực ra có nghĩa là: để cho dân được mở miệng. Liệu có làm được không, có dám làm thế không?” 1

Đã có một thời kỳ nhiều người tranh luận về khái niệm lấy dân làm gốc, cho rằng dùng chữ “lấy” là có ý chủ quan, như là sự ban phát, dùng hay không dùng một vật gì đó, mà cái được “lấy” ở đây chính là “dân”. Không bàn về chữ nghĩa, mà nói về ý nghĩa thôi, thì phải thừa nhận rằng trong khái niệm dân chủ, nội hàm quan trọng nhất chính là dân. Đặc biệt là ở Việt Nam, người dân có một sức sống mãnh liệt, dồi dào tính năng động tự thân, khả năng thích nghi, khả năng đề kháng, khả năng chịu đựng, khả năng phản ứng linh hoạt đối với tất cả ngoại cảnh, trong đó có những chính sách.

Lịch sử đã cho thấy rằng nhân dân Việt Nam có thể xả thân và ủng hộ hết lòng, đem cả của cải, sự nghiệp, thân xác, gia đình để ủng hộ một chính sách, một chủ trương, khi thấy nó là của mình, vì mình.

Khi một chính sách không hợp với lòng dân thì người dân có những biện pháp thiên biến vạn hóa để ứng xử. Trong thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, chính dân đã nghĩ ra trăm phương ngàn kế để đối phó với những chính sách phản dân hại nước của kẻ xâm lược và chính quyền tay sai. Trong thời kỳ xây dựng CNXH, khi có những chính sách sai lầm, mà dân không được góp ý hoặc góp ý mà chưa sửa, thì dân cũng có trăm phương ngàn kế để “chấp hành”. Chính những phản ứng đó làm cho những chính sách sai lầm không phát huy được tác hại quá đáng, mà bị vô hiệu hóa một phần, từ chỗ vô hiệu hóa đến chỗ phải sửa đổi. Trong sự sửa đổi này, cũng chính những người dân đã có những đóng góp vô hình bằng những phản ứng như làm chui, như phá rào, như chấp hành theo kiểu “kính nhi viễn chi”…

Như vậy dân chủ là một thực thể chính trị của mọi xã hội. Nó không phải là cái để đem cho, đem ban phát, nó không giống như những tờ tem phiếu mà có thể cắt từng ô từng ô, cắt bao nhiêu, lúc nào… Nó nằm trong đời sống xã hội, nó có sức mạnh và tác dụng đương nhiên. Cũng như ánh sáng mặt trời, như gió… nếu biết khai thác nó, tận dụng nó thì có thể tạo ra những năng lượng hữu ích, hạn chế được những tác dụng tai hại của nó…

5/ Sự thịnh suy của một quốc gia lệ thuộc rất nhiều vào bộ máy lãnh đạo và đặc biệt là những người lãnh đạo. Xưa nay, trong lịch sử mọi quốc gia, không có thời đại nào được gọi là thịnh trị mà lại không phải là thời đại có một vị minh quân. Ngược lại, không có một thời đại nào suy đồi mà lại không liên quan tới một vị hôn quân, một bộ máy nhà nước hủ bại.

Người lãnh đạo tốt không chỉ là một người giỏi về mọi mặt. Không phải nhà lãnh đạo tốt nào cũng là toàn tài. Điều chính yếu là thấy được vấn đề, biết dùng được nhân tài, biết tránh được những kẻ gian thần. Lê Lợi là như vậy. Quang Trung là như vậy. Hồ Chí Minh là như vậy.

Ngược lại, nếu người lãnh đạo không những thiếu kiến thức, mà lại tự cho mình hiểu biết tất cả, tự mình suy nghĩ và quyết định tất cả, thì lúc ấy đất nước có thể sa vào thảm họa. Lịch sử không thiếu gì những tấm gương tày liếp về mặt này.

Thời kỳ đổi mới là một bài học sáng giá cho chúng ta: Những người lãnh đạo đã thực sự bức xúc trước những khó khăn kinh tế, tập hợp những nhân tài, lắng nghe mọi nguồn thông tin, thấu cảm tâm tư của mọi giai tầng xã hội, trăn trở với những giải pháp, kiên trì đấu tranh để thuyết phục tập thể lãnh đạo đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời… Ở những cấp thấp hơn, những người lãnh đạo địa phương với tinh thần trách nhiệm cao, với dũng khí của người cách mạng, với trách nhiệm trước Đảng, trước dân, đã mạnh dạn đột phá, mở ra những hướng đi. Đó là sự chuẩn bị trực tiếp cho sự nghiệp đổi mới. Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam gắn liền với những tên tuổi rất đáng được tôn vinh. Không có những con người đó, có lẽ khó có được sự nghiệp đổi mới của Việt Nam.

6/ Nói đến tư duy kinh tế, không thể không nói tới một yếu tố cực kỳ quan trọng: Trí thức.

Như Lênin đã từng đưa ra công thức: Nhiệt tình + Cách mạng + Ngu dốt = Phá hoại. Những tư tưởng kinh tế, dù là của dân cư, của quần chúng, nhưng nó phải được đúc kết, gạn lọc, hình thành bởi những nhà khoa học, nhà tư tưởng. Chính thành phần tinh hoa này của xã hội là nơi chuẩn bị của cho những đường lối, chủ trương và chính sách.

Nguyễn Du viết rằng: “Đất nước có lúc thịnh lúc suy, nhưng hào kiệt thì thời nào cũng có”. Nếu hào kiệt thời nào cũng có thì sự thịnh suy của quốc gia trong một chừng mực đáng kể là tùy thuộc vào việc đất nước có sử dụng tốt các bậc hào kiệt hay không.

Một xã hội thịnh trị chỉ có thể là một xã hội mà ở đó trí thức được tôn trọng, được tạo điều kiện để làm việc và được đề xuất những ý tưởng của mình. Một tấm gương sáng chói về mặt này là Hồ Chí Minh trong việc thành lập và điều hành Chính phủ thời kỳ lập quốc. Đến ngày 25-08-1945, lần đầu tiên Hồ Chí Minh mới tới Thủ đô Hà Nội. Nhưng ngay ngày hôm sau ông đã lập được một Chính phủ gồm những nhân tài xuất sắc của đất nước. Chắc chắn là cho đến lúc đó Hồ Chí Minh vẫn còn rất bỡ ngỡ về Hà Nội, về những vấn đề lớn lao đang đặt ra trước đất nước mà bản thân ông thì không thể nào biết hết được những giải pháp. Nhưng ông có 2 cái biết vô cùng quan trọng: Thứ nhất, Biết rằng mình không biết, và không giấu giếm để nhờ mọi người giúp ông. Thứ hai, do đó biết dùng những người biết. Nhờ đó tuy ông không biết hết, nhưng Chính phủ của ông thì biết cách giải quyết hầu hết các vấn đề nan giải của đất nước.

Ngược lại, một xã hội đốt sách chôn kẻ sĩ (đồ thư khanh nho), hoặc sử dụng trí thức vào những việc có tính chất “điếu đóm”, ca tụng, minh họa hoặc sai vặt, thì dù có đưa ra bao nhiêu khẩu hiệu lớn lao, có ra các khẩu lệnh “đại tiến vọt”, “thiên lý mã”… thì xã hội vẫn chỉ có thể là một xã hội trì trệ, tụt hậu, vẫn đói, vẫn thiếu.

Trước thảm cảnh đó, dù có xây bao nhiêu Vạn Lý Trường Thành để tự vệ thì cuối cùng họa ngoại xâm cũng khó tránh khỏi. Nếu không có họa ngoại xâm, thì cũng có loạn trong nước. Nếu không có loạn trong nước thì dân sẽ “nổi loạn” một cách thầm kín bằng những chuyện tiếu lâm, hò vè, châm biếm… Trong lịch sử thế giới đã có không ít thí dụ về những nhà cầm quyền không biết rằng mình không biết, hoặc sợ người ta biết rằng mình không biết. Do đó, từ coi thường tri thức đến sợ hãi trí tuệ, bất cần kiến thức và né tránh những kinh nghiệm trong nước và quốc tế. Kết quả cuối cùng là đất nước lâm vào khủng hoảng. Mà khi đã không biết rõ nguyên nhân của khủng hoảng thì thường lại khắc phục khủng hoảng bằng những biện pháp bạo lực, đẩy khủng hoảng tới chỗ ngày càng trầm trọng.

Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đương nhiên là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, trong đó có sự đóng góp lớn của toàn dân, của các địa phương, của những nhà lãnh đạo ở Trung ương… Nhưng đồng thời trong đó luôn luôn có vai trò của trí thức. Trong lĩnh vực kinh tế thì trước hết là vai trò của những nhà kinh tế.

Vai trò của trí thức trong sự hình thành tư duy và chính sách kinh tế không chỉ lệ thuộc vào thái độ của Nhà nước đối với trí thức, mà còn lệ thuộc vào thái độ của bản thân trí thức đối với những kiến thức và tư duy của mình.

7/ Thiết kế mô hình là điều vô hình quan trọng. Thời đại nào cũng vậy, nhà nước nào cũng vậy, cần có một nhà thiết kế bộ máy nhà nước và các chính sách quốc gia. Chính vì yếu tố này quyết định sự thịnh suy của một đất nước, một thời kỳ.

Thời Hồ Chí Minh, chính Hồ Chí Minh là nhà thiết kế vĩ đại đối với Đảng, đối với Nhà nước và đổi mới quan hệ xã hội và các quan hệ quốc tế. Từ Nhà nước đến Đảng, từ Mặt trận đến các quan hệ giữa người giàu với người nghèo, giữa trí thức và thường dân, giữa trong Đảng và ngoài Đảng, giữa quan lại cũ với cán bộ cách mạng, giữa Việt nam và thế giới, và từng nước, thậm chí từng nhà lãnh đạo của mỗi nước, tất cả đều được thiết kế thành một rường cột chắc chắn, trong đó mọi người đều dấn thân vì lợi ích chung, mà Hồ Chí Minh là điểm mấu chốt của hệ thống rường cột đó… Cùng với việc thiết kế mô hình, Hồ Chí Minh đã xác định rất trúng các mục tiêu trọng yếu và khả thi, từ đó ông cô đúc lại thành những khẩu hiệu ngắn gọn, dễ hiểu. Khác với người Trung Quốc thường dùng những khẩu hiệu quá to tát nhưng khô khan, như toàn dân làm gang thép, đại tiến vọt, bốn hiện đại hóa… Hồ Chí Minh đưa ra những khẩu hiệu bình dị, gần gũi với cuộc sống, đậm đà tình người như Tấc đất tấc vàng, Nhường cơm sẻ áo, Đoàn kết, Đoàn kết, Đại đoàn kết, Làm cho dân số có ăn, làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành…

Đến thời đánh Mỹ thì một lần nữa lại có một nhà thiết kế tài ba của cuộc chiến tranh, đó là Lê Duẩn: Tư tưởng đánh vào ý chí xâm lược của Mỹ, đánh lui từng bước, đánh đổ từng bộ phận, đánh vào những lá phiếu trong Quốc hội Mỹ, đánh vào lòng nhân dân Mỹ, đánh vào lương tâm nhân loại, dùng sức mạnh tổng hợp của ba dòng thác cách mạng, ba mũi giáp công, nắm thắt lưng địch mà đánh, tổ chức hậu phương lớn, mở con đường chi viện cho miền Nam bằng mọi giá, tổ chức các khu căn cứ địa, đẩy mạnh hoạt động nội thành, đưa người vào và leo đến những đỉnh cao nhất của bộ máy đối phương, tận dụng và phát huy sức mạnh của các lực lượng đối lập… Đó là một bản thiết kế tổng hợp tài tình.

Nhưng từ sau khi thắng lợi vẻ vang trong chiến tranh, thì việc thiết kế một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình lại gặp nhiều khó khăn, ách tắc. Tuy lúc này các nhà thiết kế có một thuận lợi rất lớn là có uy tín rất cao trong nước và trên trường quốc tế. Với thuận lợi đó, nếu chọn con đường đi hợp lý thì chắc chắn có thể thành công lớn. Nhưng tiếc rằng bản thiết kế chưa được hoàn hảo, các mục tiêu ít tính khả thi, những ý tưởng cao xa thiếu những biện pháp thiết thực để thực hiện:

“Tư tưởng chủ quan, say sưa với thắng lợi, nóng vội, muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn, việc bố trí sai cơ cấu kinh tế cộng với những khuyết điểm của mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp bộc lộ ngày càng rõ làm cho tình hình kinh tế - xã hội rơi vào khủng hoảng, trì trệ”. (2)

Đến thời kỳ đổi mới lại có một nhà thiết kế tài ba nữa là Trường Chinh. Lúc này Trường Chinh vừa có uy tín lớn, vừa có một cách nhìn đúng đắn để chuẩn bị những tư tưởng cơ bản cho Đại hội Đảng lần thứ VI và thuyết phục được mọi người.

Sau đó, chính những di sản của Đại hội Đảng lần thứ VI đã tạo ra cả một lộ trình tư tưởng để những người lãnh đạo tiếp theo hoàn thiện thêm, xử lý tiếp từng lĩnh vực, sửa đổi một loạt thiết chế kinh tế, dọn dẹp những chướng ngại vật của thiết chế cũ…

8/ Nếu nhìn lại cả một chặng đường dài của lịch sử cách mạng VN, có thể thấy rằng phương pháp tư duy tả khuynh, chủ quan, duy ý chí… đã từng dẫn tới nhiều sai lầm nghiêm trọng về kinh tế. Chỉ khi nào khắc phục được phương pháp tư duy đó, mạnh dạn sửa chữa sai lầm thì mới tạo được sức mạnh toàn dân và tạo được đà cho phát triển. Đó là lúc Việt nam đạt được những thành công rực rỡ trong đấu tranh cách mạng cũng như trong phát triển kinh tế.

Thử điểm lại một số giai đoạn lịch sử, thấy rất rõ sự “đắp đổi” này:

Thời kỳ mới thành lập Đảng, xu hướng tả khuynh của Quốc tế III đã là một động cơ của Xô Viết Nghệ Tĩnh và dẫn tới thất bại, lực lượng của Đảng bị tổn thất nghiêm trọng. Sau đó, Nguyễn Ái Quốc định hướng cho Đảng, phát triển đấu tranh công khai, lợi dụng mặt trận dân chủ Đông Dương để phục hồi sức mạnh của Đảng. Từ đó, Đảng lại phát triển.

Đến Nam Kỳ khởi nghĩa, lại một xu hướng manh động, tả khuynh đã dẫn tới thất bại, lực lượng Đảng bị tổn thất rất nặng nề.

Bác về Pắc Bó, cũng vừa là lúc có chủ trương khởi nghĩa non. Bác đã kịp thời ngăn chặn lại. Bác điều chỉnh lại đường lối chủ trương, xây dựng mặt trận Việt Minh, sử dụng mọi lực lượng để phát triển phong trào cách mạng, mở các lớp học, phát triển phong trào tới mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng vùng giải phóng, không manh động, không nhấn mạnh nội dung giai cấp… Từ đó phong trào cách mạng phát triển rất mạnh và dẫn tới Cách mạng tháng Tám thành công.

Trong kháng chiến chống Pháp, với chủ trương của Bác là đại đoàn kết, đã huy động được sức mạnh toàn dân, không những kháng chiến thắng lợi mà kiến quốc cũng thành công.

Từ 1951 trở đi, xu hướng tả khuynh lại có chiều phát triển mạnh nhờ sự tiếp sức của các chuyên gia bên ngoài. Kết quả là các phong trào chỉnh đốn tổ chức và cải cách ruộng đất đã làm cho Đảng ta và cách mạng chịu một tổn thất vô cùng nặng nề. Chính từ vấp váp đó, xu hướng tả khuynh lại tạm thời lắng xuống. Đến Hội nghị TW lần thứ 10 và 11 năm 1956 thì Đảng đã nghiêm khắc phê phán xu hướng tả khuynh này. Từ đó những vết thương của những sai lầm dần dần được hàn gắn, lòng dân lại yên, kinh tế dần dần phục hồi, hàng ngũ Đảng được củng cố.

Nhưng không bao lâu, xu hướng tả khuynh lại tái phát. Những cuộc cải tạo ồ ạt đối với công thương nghiệp và nông nghiệp đã dẫn tới những khó khăn, sa sút.

Sau khi giải phóng miền Nam, đã từng có nhiều bộ óc suy nghĩ về việc duy trì một nền kinh tế nhiều thành phần, về kinh tế mở, về hợp tác quốc tế, về việc sử dụng các quan hệ thị trường… Nhưng với Đại hội IV, xu hướng tả khuynh, chủ quan duy ý chí lại ảnh hưởng đến các đường lối và chủ trương. Cải tạo công thương nghiệp và nông nghiệp ồ ạt, vội vã… Đó là những nguyên nhân chính dẫn tới những khủng hoảng và ách tắc gây những thiệt hại rất lớn cho kinhtees kể từ 1970 trở đi.

Khi nền kinh tế và đời sống nhân dân đã đi đến cùng cực thì xu hướng tả khuynh bộc lộ rõ tính bất lực của nó. Những bộ óc khách quan, trí tuệ tỉnh táo hơn đã cứu vớt từng mảng của nền kinh tế. Đó chính là những cuộc phá rào ở các cơ sở và phá rào trong cả đường lối chính sách ở trung ương.

Nhưng từ 1983, xu hướng tả khuynh lại trỗi dậy nơi này nơi kia, muốn gò lại nền kinh tế, tình trạng ngăn sông cấm chợ lại xuất hiện, cơ chế kế hoạch hóa quan liêu bao cấp lại có xu hướng phục hồi.

Đến Đại hội VI, những khuyết tật của xu hướng tả khuynh duy ý chí đã tạm thời lùi bước. Nhờ đó, kinh tế lần lượt đạt được những bước tháo gỡ rất căn bản.

Khi xem xét căn bệnh này, không thể chỉ quy về từng con người cụ thể, mà cần tính đến những hoàn cảnh lịch sử của sự hình thành đội ngũ cách mạng. Như ở trên đã dẫn lời nhận xét của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh: Căn bệnh này có liên quan đến “nguồn gốc lịch sử là nước ta chưa trải qua giai đoạn dân chủ tư sản”, “tư tưởng phong kiến còn nặng nề”, “trình độ kiến thức, khả năng thông tin còn thấp kém”…

Nếu đọc lại cuốn Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản của Lê Nin thì thấy rằng không riêng ở Việt Nam, mà ở hầu hết những nước phải tiến hành cách mạng vô sản, những điều kiện đấu tranh khắc nghiệp với kẻ thù dẫn đến những đặc điểm chung của sự hình thành đội ngũ cán bộ: Thiếu điều kiện để được đào tạo một cách có hệ thống, thiếu cơ hội tiếp xúc với thế giới phương Tây ở những khía cạnh văn minh của nó. Ngược lại, chỉ tiếp xúc nhiều với khía cạnh xấu xa của thế giới đó là áp bức dân tộc, bóc lột giai cấp, tù đày, tra tấn… Khi đã quen nhìn thế giới đó qua chấn song của những nhà tù đế quốc thì khó tránh khỏi những căn bệnh hẹp hòi, thành phần chủ nghĩa, thù ghét người giàu, cảnh giác với trí thức tư sản và trí thức nói chung, nghi kỵ tất cả những gì là của thế giới tư bản, nhìn ở đâu cũng thấy địch, thấy những âm mưu nguy hiểm…

Tính quy luật này có thể được kiểm chứng bằng phương pháp phản đề: Lại thử xét những trường hợp các nhà cách mạng đã từng trải nhiều năm tại thế giới phương Tây, hiểu thấu xã hội đó, giao tiếp với nhiều chính khách và trí thức của các nước đó, thì phong cách khác, tư duy khác, cách nhìn và cách ứng xử cũng khác, tự tin hơn, và nhờ tự tin hơn nên cũng ít mặc cảm, ít hẹp hòi và ít kỳ thị hơn. Do đó nguy cơ tả khuynh, chủ quan, duy ý chí cũng ít hơn. Leenin là như thế. Hồ Chí Minh cũng là như thế. Mà sự nghiệp đổi mới, trên một khía cạnh nào đó, chính là khôi phục lại những giá trị đích thực của Leenin, của Hồ Chí Minh, như Nguyễn Phú Trọng đã nói ở trên, không chỉ là tìm ra cái mới, mà cũng còn là lấy lại những cái đúng đã bị hiểu sai, làm sai.

Nguồn: chungta.com
Home
  • Recent Posts
  • Comments

footerwidget1

footerwidget2

footerwidget3

footerwidget4